Khái niệm dịch vụ

Có một số cách hiểu về dịch vụ chủ yếu như sau:

Theo quan điểm truyền thống: những gì không phải nuôi trồng, không phải sản xuất là dịch vụ, nó bao gồm các hoạt động:

+    Khách sạn, cả hàng ăn, hiệu sửa chữa, bảo hành

+    Giải trí, phim ảnh, bảo tàng

+    Chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm

+    Tư vấn, giáo dục, đào tạo

+    Tài chính, ngân hàng

+    Bán buôn, bán lẻ

+    Giao thông vận tải, phương tiện công cộng: viễn thông, bưu chính, CNTT

+    Khu vực chính phủ: tòa án, cảnh sát, quân đội, cứu thương, cứu hỏa,…

Khái niệm dịch vụ
Khái niệm dịch vụ

Các bài viết có thể xem thêm:

Đặc điểm của dịch vụ

đặc điểm công ty cổ phần

người tiêu dùng là gì

Theo cách hiểu phổ biến: dịch vụ là một hoạt động xã hội mà sản phẩm của nó là vô hình. Nó giải quyết các mối quan hệ với khách hàng với tài sản do khách hàng sở hữu mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu.

Theo cách hiểu khác: dịch vụ là một hoạt động xã hội xảy ra trong mối quan hệ trực tiếp giữa khách hàng và đại diện của tổ chức cung ứng dịch vụ.

Theo ISO 8402: “Dịch vụ là kết quả tạo ra do các hoạt động tiếp xúc giữa người cung ứng và khách hàng và các hoạt động nội bộ của người cung ứng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng”.

Dịch vụ bao gồm ba bộ phận hợp thành, đó là:

+    Dịch vụ căn bản là hoạt động thực hiện mục đích chính, chức năng, nhiệm vụ chính của dịch vụ.

+    Dịch vụ hỗ trợ là hoạt động tạo điều kiện thực hiện tốt dịch vụ cơ bản và làm tăng giá trị của dịch vụ cơ bản. Ví dụ: dịch vụ tư vấn thiết kế các công trình viễn thông, thì giải pháp kỹ thuật, kinh tế của công trình là dịch vụ căn bản. Bên cạnh đó đơn vị cung cấp dịch vụ tư vấn thiết kế tổ chức các buổi hội thảo công nghệ mới, thảo luận với khách hàng; cung cấp tài liệu chuyên ngành…để khách hàng tiếp cận được với giải pháp kỹ thuật mà đơn vị tư vấn đưa ra; đó là những dịch vụ hỗ trợ.

+    Dịch vụ toàn bộ: bao gồm dịch vụ căn bản và dịch vụ hỗ trợ.

Với một hoạt động nhất định, nhiều khi khó tách bạch giữa sản phẩm và dịch vụ; sản xuất gắn chặt với dịch vụ. Ví dụ: hoạt động của cửa hàng ăn vừa có tính chất sản phẩm, vừa có tính chất dịch vụ; dịch vụ bao gói, bảo hành gắn với sản phẩm cụ thể.

Để có dịch vụ cần có sự phối hợp chặt chẽ của các yếu tố vật chất và con người bao gồm cả sự phối hợp với khách hàng. Cụ thể muốn cung cấp  một dịch vụ cần có các yếu tố cơ bản sau:

–     Khách hàng đang nhận dịch vụ. Đây là yếu tố căn bản và tuyệt đối cần thiết để có dịch vụ. Không có khách hàng, không tồn tại dịch vụ.

–     Cơ sở vật chất bao gồm phương tiện, thiết bị, địa điểm, khung cảnh…

–     Nhân viên phục vụ hoạt động dịch vụ. Dịch vụ là mục tiêu của hệ thống dịch vụ cũng là chính là kết quả của hệ thống. Gần đây có 1 số dịch vụ không cần nhân viên phục vụ mà tổ chức cung ứng dịch vụ thực hiện cung cấp dịch vụ cho khách hàng thông qua hệ thống máy móc, dịch vụ đó còn gọi là dịch vụ self service. Ví dụ: hệ thống trả lời thông tin tự động; hệ thống rút tiền tự động …

–     Sản phẩm đi kèm

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vunhan lam luan van thue , nhan chay spss , giá làm tiểu luận thuê  … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Khái niệm dịch vụ
5 (100%) 1 vote

Mô hình SERVQUAL

Theo mô hình SERVQUAL (Parasuraman et al. 1994), chất lượng dịch vụ được xác định như sau: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận – Giá trị kỳ vọng. Các tác giả đã khởi xướng và sử dụng nghiên cứu định tính và định lượng để xây dựng và kiểm định thang đo các thành phần chất lượng của dịch vụ (gọi là thang đo SERVQUAL). Thang đo SERVQUAL được điều chỉnh và kiểm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, bao gồm 22 biến để đo lường năm thành phần của chất lượng dịch vụ như trình bày rõ hơn ở bảng dưới đây:

Bảng 2.1: Năm thành phần và 22 biến quan sát của thang đo SERVQUAL

Các thành phần Biến đo lường tương ứng
Độ tin cậy (Reliability)

Thể hiện qua khả năng thực hiện dịch vụ phù hợp và đúng thời hạn ngay lần đầu tiên

1.      Khi công ty X hứa sẽ thực  hiện điều gì đó vào khoảng thời gian xác định, thì công ty sẽ thực hiện

2.      Khi bạn gặp vấn đề, công ty X thể hiện sự quan tâm chân thành trong giải quyết vấn đề

3.      Công ty X thực hiện dịch vụ đúng ngay lần đầu tiên

4.      Công ty X cung cấp dịch vụ đúng vào thời điểm mà công ty hứa thực hiện

5.      Công ty X lưu ý để không xảy ra sai sót nào

Độ đáp ứng:

Thể hiện qua sự mong muốn và sẵn sàng cung cấp dịch vụ kịp thời cho khách hàng

1.      Nhân viên công ty X phục vụ bạn nhanh chóng, đúng hạn

2.      Nhân viên công ty X luôn sẵn sàng giúp đỡ bạn

3.      Nhân viên công ty X  không bao giờ tỏ ra quá bận rộn để không đáp ứng yêu cầu của bạn

4.      Công ty X thông báo cho khách hàng khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện

Sự đảm bảo

Thể hiện khả năng tạo sự tin tưởng và an tâm cho khách hàng

1.      Hành vi của nhân viên trong công ty X tạo sự tin tưởng đối với bạn

2.      Bạn cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch với công ty X

3.      Nhân viên trong công ty X bao giờ cũng tỏ ra lịch sự, nhã nhặn với bạn

4.      Nhân viên trong công ty X đủ kiến thức để trả lời câu hỏi của bạn

Đồng cảm

Thể hiện sự quan tâm chăm sóc đến từng cá nhân khách hàng

1.      Công ty X thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn

2.      Công ty X có những nhân viên thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn

3.      Công ty X thể hiện sự chú ý đặc biệt đến những quan tâm nhiều nhất của bạn

4.      Nhân viên trong công ty X hiểu được những nhu cầu đặc biệt của bạn

Phương tiện hữu hình

Thể hiện mức độ hấp dẫn, hiện đại của các trang thiết bị vật chất, giờ phục vụ thích hợp cũng như trang phục của nhân viên

1.      Công ty X có trang thiết bị hiện đại

2.      Cơ sở vật chất của công ty X trông rất hiện đại

3.      Nhân viên của công ty X có trang phục gọn gàng, lịch sự

4.      Các sách ảnh giới thiệu của công ty X có liên quan đến dịch vụ trông rất đẹp

5.      Công ty X có thời gian giao dịch thuận tiện

Nguồn: Parasuraman et al., 1988

Parasuraman et al. (1991) khẳng định rằng SERVQUAL là thang đo hoàn chỉnh về chất lượng dịch vụ, đạt giá trị và độ tin cậy, và có thể được ứng dụng cho mọi loại hình dịch vụ khác nhau. Tuy nhiên, mỗi ngành dịch vụ cụ thể có những đặc thù riêng của chúng. Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng đã kiểm định thang đo này với nhiều loại hình dịch vụ cũng như tại nhiều quốc gia khác nhau. Kết quả cho thấy các thành phần của chất lượng dịch vụ không thống nhất với nhau ở từng ngành dịch vụ và từng thị trường khác nhau (Bojanic, 1991; Cronin & Taylor, 1992; Dabholkar et al., 1996; Lassar et al., 2000)

Các bài viết có thể xem:

khái niệm chiến lược

khái niệm nguồn nhân lực

khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vunhan viet luan van thue , nhận chạy spss , viết thuê tiểu luận … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Mô hình SERVQUAL
5 (100%) 1 vote

Mô hình chất lượng dich vụ SERVPERF Mô hình Gronroos (1984)

1. Mô hình SERVPERF

Là một biến thể của mô hình SERVQUAL, bộ thang đo của mô hình này cũng sử dụng 22 mục phát biểu tương tự như trong SERVQUAL, nhưng bỏ qua phần câu hỏi về kỳ vọng, theo đó: Chất lượng dịch vụ = Mức độ cảm nhận. Kết luận này đã nhận được sự đồng tình bởi các nghiên cứu của Lee et al. (2000), Brady et al. (2002) dẫn trong Lam (2011).

2. Mô hình Gronroos (1984)

Để nghiên cứu cảm nhận của khách hàng về chất lượng dịch vụ, mô hình này dựa trên ba điểm thiết yếu: (1) Phân biệt chất lượng chức năng với chất lượng kỹ thuật; (2) Hình ảnh có tầm quan trọng tột bậc đối với tất cả các hãng cung ứng dịch vụ; (3) Cảm nhận toàn bộ về chất lượng là một hàm của những cảm nhận đánh giá của khách hàng về dịch vụ và (4) Sự khác biệt giữa những đánh giá này với những mong đợi về dịch vụ của họ.

Mô hình chất lượng dich vụ SERVPERF Mô hình Gronroos (1984)
Mô hình chất lượng dich vụ SERVPERF Mô hình Gronroos (1984)

Các bài có thể xem thêm:

Mô hình SERVQUAL đánh giá chất lượng dịch vụ

Mô hình SERVQUAL

khái niệm nguồn nhân lực

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vu: thue lam luan van tot nghiep , viết essay theo chủ đề , viết tiểu luận triết học … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Mô hình chất lượng dich vụ SERVPERF Mô hình Gronroos (1984)
5 (100%) 1 vote

Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức

Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực

Cho đến nay khái niệm về phát triển nguồn nhân lực được nhiều tổ chức, cá nhân đưa ra và được sử dụng rộng rãi. Những khái niệm này được hình thành và phát triển trên thế giới trong những thập niên 70, dựa trên quan niệm mới về phát triển và vị trí con người trong sự phát triển. Khi nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực do có nhiều cách tiếp cận khác nhau nên  trong thực tế có các quan niệm khác nhau:

Theo giáo trình kinh tế lao động, trương ĐH Kinh tế quốc dân do PGS.TS.Mai Quốc Chánh chủ biên xuất bản năm 2008 thì: PTNNL là quá trình phát triển thể lực, trí lực, khả năng nhận thức và tiếp thu kiến thức, tay nghề, tính năng động xã hội và sức sáng tạo của con người; nền văn hóa; truyền thống lịch sử… Do đó, PTNNL đồng nghĩa với nâng cao năng lực xã hội và tính năng động xã hội của nguồn nhân lực về mọi mặt; thể lực, trí lực, nhân cách, đồng thời phân bố, sử dụng và phát huy có hiệu quả nhất năng lực đó để phát triển đất nước [Trang 104].

Theo giáo trình Quản trị nhân lực Trường Đại học Kinh tế quốc dân xuất bản năm 2004 thì: PTNNL (theo nghĩa rộng): là tổng thể các hoạt động học tập có tổ chức được tiến hành trong những khoảng thời gian nhất định để nhằm tạo ra sự thay đổi trong hành vi nghề nghiệp của người lao động [Trang 153].

Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức
Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức

Các bài viết có thể xem thêm:

Khái niệm dịch vụ

Đặc điểm của dịch vụ

Mô hình SERVQUAL đánh giá chất lượng dịch vụ

PTNNL bao gồm ba hoạt động chính: phát triển số lượng nguồn nhân lực, chất lượng nguồn nhân lực và cơ cấu nguồn nhân lực.Trong đó chất lượng nguồn nhân lực được đặc biệt chú trọng thông qua công tác đào tạo, trên thực tế, đào tạo và bồi dưỡng dễ bị đồng nhất với giáo dục nói chung. Giáo dục là một quá trình được tổ chức nhằm phát triển thể chất, nhận thức, năng lực, tình cảm, thái độ, góp phần hoàn thiện nhân cách người học đáp ứng nhu cầu tồn tại và phát triển của con người trong xã hội. Trong khi đào tạo và bồi dưỡng nhằm giúp cho người học nắm vững những kiến thức, có được kĩ năng nghề nghiệp ở một lĩnh vực để thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.

Giáo dục và đào tạo, bồi dưỡng có những điểm chung là đều hướng vào việc trang bị kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất như đạo đức, tác phong, kỷ luật lao động v.v. Nhưng, đào tạo và bồi dưỡng nhằm vào việc trang bị thêm và củng cố những năng lực cụ thể để người lao động đảm nhận những công việc nhất định, do vậy thường có có ý nghĩa hẹp hơn.

Như vậy, phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi hẹp chỉ các hoạt động tạo cơ hội phát triển kỹ năng, năng lực của cá nhân để phát triển nghề nghiệp và sự nghiệp. Phát triển bao gồm cả đào tạo nhưng liên quan chặt chẽ tới nghề nghiệp, nhiệm vụ trong tương lai của người lao động trong tổ chức, vì vậy còn bao gồm nhiều hoạt động liên quan như: thiết kế lại công việc, làm giàu công việc, luân chuyển nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của nguồn nhân lực theo chiến lược và mục tiêu đã được hoạch định.

Phát triển nguồn nhân lực ở phạm vi một quốc gia bao gồm 3 khía cạnh về các mặt: thể lực, nâng cao phẩm chất chung của nguồn nhân lực và phát triển về trí lực. Trong đó, phát triển về thể lực và nâng cao phẩm chất chung liên quan đến nhiều chính sách như: y tế, dinh dưỡng, giáo dục, xây dựng văn hóa cộng đồng để nâng cao tinh thần đoàn kết, yêu nước của người dân.v.v.. Phát triển về trí lực bao gồm nhiều nội dung như: giáo dục, đào tạo và bồi dưỡng để nâng cao chất lượng, tức năng lực của nguồn nhân lực. Trong một tổ chức, hoạt động chủ yếu nhất của phát triển nguồn nhân lực đào tạo và bồi dưỡng.

Từ các khía cạnh nghiên cứu của luận văn, khái niệm PTNNL được hiểu như sau: PTNNL là quá trình tạo ra sự thay đổi về số lượng, chất lượng nâng cao phẩm chất nguồn nhân lực với việc nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn nhân lực nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, của vùng hay của một tổ chức thông qua việc thực hiện đồng bộ các giải pháp đào tạo phát triển của tổ chức, cá nhân.

Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức

Khái niệm PTNNL trong một tổ chức và khái niệm PTNNL nhưng được thực hiện trong phạm vi một tổ chức. Vì vậy PTNNL trong tổ chức có những nét riêng.

Về mục tiêu: PTNNL trong tổ chức hướng tới việc thực hiện tốt các mục tiêu, nhiệm vụ, chiến lược và phát triển chung của tổ chức

Về nội dung: Với đề tài PTNNL trong một tổ chức có nhiều đề tài nghiên cứu với nội dung: phát triển thể lực, phát triển trí lực, rèn luyện phát triển phẩm chất, sự thăng tiến, … trong phạm vi của luận văn tác giả tập trung nghiên cứu PTNNL của một tổ chức ở hai khía cạnh phát triển:

– Số lượng và cơ cấu phù hợp

– Nâng cao chất lượng NNL

Thực tế cho thấy trong một tổ chức có nhiều vị trí với những chức danh công việc khác nhau, nhiệm vụ khác nhau, số lượng và cơ cấu riêng đòi hỏi NLĐ cần có những kỹ năng, kiến thức đáp ứng được từng vị trí. Trên cơ sở đó tổ chức sẽ lựa chọn NLĐ thong qua khâu tuyển dụng đầu vào đồng thời đầu tư tài chính để thực hiện việc PTNNL đạt mục tiêu đó.

PTNNL trong tổ chức là việc phát triển về số lượng và chất lượng nhân lực thông qua thực hiện các chức năng của công tác PTNNL, nhằm có một đội ngũ nhân lực phù hợp với mục tiêu và định hướng phát triển của tổ chức trong từng thời kỳ.

PTNNL trong tổ chức có các chức năng chủ yếu là: đảm bảo cơ cấu chất lượng nguồn nhân lực thực hiện nhiệm vụ, phát triển nghề nghiệp cá nhân NLĐ trong tổ chức và cuối cùng là cải thiện hiệu quả hoạt động của tổ chức.  

Để thực hiện các chức năng trên thì việc thay đổi mỗi cá nhân người lao động theo hướng cải thiện năng lực là yếu tố quyết định. Hoạt động chủ yếu nhất nhằm thực hiện các chức năng của phát triển nguồn nhân lực là đào tạo và bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, sức khoẻ, cải thiện ý thức, tác phong của người lao động để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vudich vu lam luan van tot nghiep , dịch vụ spss , làm tiểu luận thuê … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Khái niệm về phát triển nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong một tổ chức
5 (100%) 1 vote

Khái niệm về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trong tổ chức

Khái niệm về nguồn nhân lực

Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về NNL, tùy theo cách tiếp cận và cách hiểu khác nhau của mỗi tác giả mà có quan niệm khác nhau về NNL. Có thể nêu một số khái niệm như sau:

Theo PGS.TS Nguyễn Tiệp nhìn nhận NNL là: “NNL bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động” [Trang 7]. Theo khái niệm này có thể hiểu NNL với tư cách là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội. Dưới một góc độ khác NNL được hiểu theo nghĩa hẹp hơn, bao gồm nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động” [Trang 7-8]. Khái niệm này chỉ khả năng đảm đương lao động chính của xã hội.

Nguồn nhân lực là phạm trù dùng để chỉ sức mạnh tiềm ẩn của dân cư, khả năng huy động tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội trong hiện tại cũng như trong tương lai. Sức mạnh và khả năng đó được thể hiện thông qua số lượng, chất lượng và cơ cấu dân số, nhất là số lượng và chất lượng con người có đủ điều kiện tham gia vào nền sản xuất xã hội” [Trang 13].

Cũng với quan niệm coi NNL theo quan niệm của Nicholas Henry “Nguồn nhân lực là nguồn lực con người của những tổ chức (với quy mô, loại hình, chức năng khác nhau) có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát triển của tổ chức cùng với sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia, khu vực, thế giới” [Trang 33].

Theo quan điểm của tác giả thì nguồn nhân lực là chủ thể sáng tạo, có khả năng tham gia chi phối toàn bộ quá trình phát triển kinh tế – xã hội hướng nó tới mục tiêu đã chọn. Do đó NNL không chỉ gồm số lượng, cơ cấu đang có và sẽ có mà còn bao gồm chất lượng lao động (thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp) và phẩm chất lao động (thái độ, tác phong, phong cách làm việc) đáp ứng nhu cầu của tổ chức hoặc một cơ cấu kinh tế – xã hội nhất định.

Khái niệm về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trong tổ chức
Khái niệm về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trong tổ chức

Các bài viết có thể xem thêm:

Khái niệm dịch vụ

Đặc điểm của dịch vụ

Mô hình SERVQUAL đánh giá chất lượng dịch vụ

Khái niệm về nguồn nhân lực trong tổ chức

NNL của tổ chức được hình thành trên cơ sở của các cá nhân có vai trò khác nhau và được liên kết với nhau theo mục tiêu nhất định. Theo giáo trình Nguồn nhân lực, Trường đại học Lao Động – Xã Hội do PGS.TS Nguyễn Tiệp chủ biên, xuất bản năm 2005 thì: “NNL của một tổ chức bao gồm tất cả những người lao động làm việc trong tổ chức đó, còn nhân lực được hiểu là nguồn lực của mỗi con người mà nguồn lực này gồm có thể lực và trí lực” [Trang 7]. Trong phạm vi nghiên cứu cảu đề tài này khái niệm về NNL trong tổ chức được hiểu như sau: Nguồn nhân lực trong tổ chức là toàn bộ lực lượng lao động được đặc trưng bởi các yếu tố số lượng, cơ cấu, chất ượng và phẩm chất của người lao động trong tổ chức đó.

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vunhận làm thuê báo cáo tốt nghiệp , dich vu lam thue luan van thac si , viet bai tieu luan … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Khái niệm về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực trong tổ chức
5 (100%) 2 votes

Các tiêu chí phân loại chiến lược kinh doanh.Ưu và nhược điểm

Phân loại chiến lược theo cấp độ chiến lược

Trong bất kỳ tổ chức nào, các chiến lược đều tồn tại ở vài cấp độ khác nhau – trải dài từ toàn bộ doanh nghiêp (hoặc một nhóm doanh nghiệp) cho tới từng các nhân làm việc trong đó. Chiến lược được chia làm ba cấp (Chaffee: 1985), đó là:

(1).  Chiến lược cấp công ty (corporate-level strategy)

(2).  Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh (business-level strategy)

(3).  Chiến lược cấp bộ phận hay chức năng (functional-level strategy)

Lê Thị Thu Thủy (2011), Giáo trình quản trị chiến lược,
NXB Bách Khoa Hà Nội

– Chiến lược cấp doanh nghiệp (công ty), Chiến lược cấp doanh nghiệp quyết định mục tiêu tổng quát dài hạn, các chiến lược cơ bản và quy mô của doanh nghiệp để đáp ứng được những kỳ vọng của người góp vốn. Chiến lược cấp doanh nghiệp liên quan đến việc lựa chọn các hoạt động kinh doanh mà ở đó các đơn vị kinh doanh phải cạnh tranh, đồng thời có sự phát triển và phối kết hợp giữa các đơn vị với nhau, cấp độ chiến lược này rất quan trọng vì nó vừa chịu ảnh hưởng từ các nhà góp vốn trong doanh nghiệp lại vừa đóng vai trò hướng dẫn quá trình ra quyết định chiến lược trong toàn bộ doanh nghiệp. Chiến lược cấp doanh nghiệp thường được trình bày rõ ràng trong “tuyên bố sứ mệnh” của doanh nghiệp (Ansoff: 1965).

Các bài viết có thể xem thêm :

khái niệm nguồn nhân lực

khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Khái niệm dịch vụ

– Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh, Một đơn vị kinh doanh chiến lược có thể là một bộ phận trong doanh nghiệp, một dòng sản phẩm hay một khu vực thị trường, chúng có thể được kế hoạch hóa một cách độc lập.

Chiến lược cấp đơn vị kinh doanh là nhằm xây dựng lợi thế cạnh tranh và cách thức thực hiện nhằm định vị doanh nghiệp trên thị trường.

– Chiến lược cấp bộ phận hay chức năng, Chiến lược cấp bộ phận hay chức năng là những chiến lược liên quan đến các hoạt đông riêng biệt của doanh nghiệp nhằm hỗ trợ cho chiến lược cấp doanh nghiệp và cấp đơn vị kinh doanh như: chiến lược sản xuất, chiến lược tài chính, chiến lược thị trường, chiến lược marketing, chiến lược sản phẩm, chiến lược phân phối, chiến lược khuyến mãi, chiến lược cạnh tranh, chiến lược tổ chức nhân sự, chiến lược kinh doanh thị trường quốc tế…

Căn cứ vào hướng tiếp cận thị trường

Sự hình thành các loại chiến lược theo căn cứ này trong thực tế rất đa dạng và phong phú tuỳ theo trạng thái của mỗi doanh nghiệp mà triển khai chiến lược của mình. Tuy nhiên các chiến lược này thường được xây dựng và mô phỏng theo các chiến lược chuẩn. Hiện nay có các loại chiến lược chuẩn sau:

– Chiến lược tăng trưởng tập trung: là các chiến lược chủ đạo đặt trọng tâm vào việc cải thiện các sản phẩm, dịch vụ hoặc thị trường hiện có mà không thay đổi bất kỳ yếu tố nào khác. Khi theo đuổi chiến lược này doanh nghiệp cần hết sức cố gắng để khai thác mọi cơ hội có được về các sản phẩm hiện đang sản xuất hoặc các thị trường hiện đang tiêu thụ bằng cách thực hiện tốt hơn các công việc mà họ đang tiến hành. Lợi thế của chiến lược tăng trưởng tập trung là cho phép doanh nghiệp tập hợp mọi nguồn lực vào các hoạt động sở trường và truyền thống của mình để khai thác điểm mạnh. Chiến lược tăng trưởng tập trung có thể triển khai theo 3 hướng sau:

Ưu và nhược điểm của chiến lược tăng trưởng tập trung:

Lợi thế của chiến lược tăng trưởng tập trung là tập trung nguồn lực của doanh nghiệp vào các hoạt động sở trường của mình. Khai thác các điểm mạnh, phát triển quy mô trên nguyên tắc chuyên môn hóa tuyệt đối do đó rất có hiệu quả và cải thiện được vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp trên thị trường hiện có. Tuy nhiên, nếu chỉ sử dụng một cách đơn độc chiến lược này thì chưa tận dụng hết các cơ hội để phát triển toàn diện nếu còn nhiều nguồn lực về vốn và con người.

– Chiến lược phát triển hội nhập: là phát triển doanh nghiệp trên cơ sở thiết lập và mở rộng mối quan hệ liên kết với các nhà cung cấp, các nhà trung gian phân phối và tiêu thụ sản phẩm, hoặc đối thủ cạnh tranh (Nguyễn Thu Trang, 2012). Sự liên doanh và hội nhập này sẽ tạo ra một cấp độ quy mô mới, cho phép doanh nghiệp chủ động kinh doanh từ khâu đầu đến khâu tiêu thụ hoặc tạo vị thế trên thương trường. Chiến lược hội nhập cũng có thể triển khai theo 3 hướng:

Ưu và nhược điểm của chiến lược phát triển hội nhập:

+ Ưu điểm:

– Tiết kiệm được chi phí tổng cho các hoạt động trên các cấp độ ngành khác nhau.

– Giảm được chi phí marketing: rõ ràng nếu hội nhập sẽ giảm được chi phí mua hàng và bán hàng.

– Bảo vệ được những bí mật công nghệ, duy trì được lâu dài những giá trị tài sản vô hình.

– Kiểm soát chất lượng tốt hơn.

+ Nhược điểm:

Chiến lược hội nhập làm cho doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn phức tạp trong công tác quản lý vì công tác quản lý sẽ phức tạp hơn trước rất nhiều, phải thay đổi cơ cấu tổ chức quản lý, phải thực hiện một số chức năng mới.

Tuy nhiên nếu vượt qua những khó khăn trên doanh nghiệp sẽ có cơ hội chuyển hướng tác động của mình sang một lĩnh vực mới có khả năng sinh lợi cao hơn.       

– Chiến lược phát triển đa dạng hóa: là chiến lược tăng trưởngdựa trên sự thay đổi về công nghệ, sản phẩm, lĩnh vực kinh doanh nhằm tạo những cặp sản phẩm-thị trường mới cho doanh nghiệp. Chiến lược đa dạng hóa không những hạn chế rủi ro kinh doanh của doanh nghiệp vì lĩnh vực hoạt động mở rộng mà còn giúp tăng thêm lợi nhuận từ những ngành nghề khác.

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vuthue lam luan van thac sidịch vụ chạy spss , viết tiểu luận thuê  … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Các tiêu chí phân loại chiến lược kinh doanh.Ưu và nhược điểm
5 (100%) 1 vote

Vai trò và tầm quan trọng của chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp

Chiến lược kinh doanh đóng vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ tạo một hướng đi tốt cho doanh nghiệp, chiến lược kinh doanh có thể coi như kim chỉ nam dẫn đường cho doanh nghiệp đi đúng hướng. Trong thực tế, có rất nhiều nhà kinh doanh nhờ có chiến lược kinh doanh đúng đắn mà đạt được nhiều thành công, vượt qua đối thủ cạnh tranh và tạo vị thế cho mình trên thương trường. Chiến lược kinh doanh mang lại rất nhiều lợi ích cho doanh ngquản lý với nhân viên. Qua đó tăng cường và nâng cao hơn nữa nội lực của doanh nghiệp .

Vai trò của chiến lược kinh doanh

– Chiến lược kinh doanh là công cụ cạnh tranh có hiệu quả của doanh nghiệp. Trong điều kiện toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế hiện nay đã tạo nên sự ảnh hưởng và phụ thuộc qua lại lẫn nhau giữa các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh. Chính quá trình đó đã tạo nên sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trên thị trường (Ngô Kim Thanh 2011). Ngoài những yếu tố cạnh tranh như: giá cả, chất lượng, quảng cáo, marketing, các doanh nghiệp còn sử dụng chiến lược kinh doanh như một công cụ cạnh tranh có hiệu quả.

Tầm quan trọng của nó được thể hiện ở những mặt sau:

– Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp định hướng cho hoạt động của mình trong tương lai thông qua việc phân tích và dự báo môi trường kinh doanh. Kinh doanh là một hoạt động luôn chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài và bên trong (Ngô Kim Thanh 2011). Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp vừa linh hoạt vừa chủ động để thích ứng với những biến động của thị trường, đồng thời còn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động và phát triển theo đúng hướng. Điều đó có thể giúp doanh nghiệp phấn đấu thực hiện mục tiêu nâng cao vị thế của mình trên thị trường.
– Chiến lược kinh doanh giúp doanh nghiệp nắm bắt được các cơ hội cũng như đầy đủ các nguy cơ đối với sự phát triển nguồn lực của doanh nghiệp. Nó giúp doanh nghiệp khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, phát huy sức mạnh của doanh nghiệp.
– Chiến lược tạo ra một quỹ đạo hoạt động cho doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp liên kết được các cá nhân với các lợi ích khác cùng hướng tới một mục đích chung, cùng phát triển doanh nghiệp (Ngô Kim Thanh 2011). Nó tạo một mối liên kết gắn bó giữa các nhân viên với nhau và giữa các nhà

Các bài có thể tham khảo thêm:

+ Đặc trưng của chiến lược kinh doanh

+ Phân loại chiến lược kinh doanh

Đặc điểm của dịch vụ

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vu:  dich vu lam luan van thac si , viết essay , làm tiểu luận thuê hà nội  … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Vai trò và tầm quan trọng của chiến lược kinh doanh đối với doanh nghiệp
5 (100%) 1 vote

Khái niệm chiến lược và đặc trưng của chiến lược kinh doanh

Khái niệm chiến lược

Ngày nay, các tổ chức kinh doanh cũng áp dụng khái niệm chiến lược tương tự như trong quân đội. Chiến lược là kế hoạch kiểm soát và sử dụng nguồn lực của tổ chức như con người, tài sản, tài chính… nhằm mục đích nâng cao và bảo đảm những quyền lợi thiết yếu của mình. Và hiện nay đã có nhiều quan điểm về chiến lược kinh doanh như sau:
Nhà nghiên cứu lịch sử quản lý Alfred D. Chandler (1962) cho rằng “chiến lược là việc xác định các mục tiêu cơ bản dài hạn của một doanh nghiệp và thực hiện chương trình hoạt động cùng với việc phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được những mục tiêu ấy”. Như vậy, tư tưởng của ông thể hiện rõ chiến lược là một quá trình hoạch định có tính sáng suốt, trong đó doanh nghiệp lựa chọn những mục tiêu cho mình, xác định chương trình hành động để hoàn thành tốt nhất những mục tiêu đó và tìm cách phân bổ nguồn lực tương ứng. Phương thức tiếp cận truyền thống có ưu điểm là giúp các doanh nghiệp dễ dàng hình dung ra công việc cần làm để hoạch định chiến lược và thấy được lợi ích của chiến lược với phương diện là kế hoạch dài hạn. Tuy nhiên, trong môi trường kinh doanh luôn biến động như ngày nay cho thấy được hạn chế của cách tiếp cận truyền thống do nó không có khả năng thích ứng linh hoạt với sự thay đổi của môi trường kinh doanh.

Theo Micheal Porter (1996), chiến lược gia lừng danh thế giới lại có quan điểm về chiến lược nhấn mạnh tới góc độ cạnh tranh: “Chiến lược là việc nghiên cứu tìm ra một vị thế cạnh tranh phù hợp trong một ngành công nghiệp, một phạm vi hoạt động chính mà ở đó diễn ra các hoạt động cạnh tranh”. Ông cũng cho rằng “Chiến lược là việc tạo ra một sự hài hòa giữa các hoạt động của một công ty”. Sự thành công của chiến lược chủ yếu dựa vào việc tiến hành tốt nhiều việc và kết hợp chúng với nhau. Cốt lõi của chiến lược là “lựa chọn cái chưa được làm”, ở đây, ông đã nhấn mạnh rằng bản chất của chiến lược là xây dựng được lợi thế cạnh tranh, chiến lược chỉ tồn tại trong các hoạt động điển hình nhất. Chiến lược là xây dựng một vị trí duy nhất và có giá trị tác động một nhóm các hoạt động khác biệt.

Theo quan niệm của Mintzberg (1998), ông cho rằng chiến lược là một mẫu hình trong dòng chảy các quyết định và chương trình hành động. Mẫu hình có thể là bất kỳ kiểu chiến lược nào, chiến lược được thiết kế từ trước hay chiến lược đột biến. Ông đưa ra mô hình cách tiếp cận hiện đại giúp doanh nghiệp dễ dàng ứng phó linh hoạt trước những biến động của môi trường kinh doanh và phát huy tính sáng tạo của các thành viên trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nó đòi hỏi người lãnh đạo, quản lý phải có trình độ, khả năng dự báo được những điều kiện để thực hiện chiến lược và đánh giá được giá trị của các chiến lược đột biến.

Qua các cách tiếp cận trên, dù có nhiều cách hiểu khác nhau nhưng một cách khái quát chiến lược là chương trình hành động, hướng hoạt động của doanh nghiệp đến các mục tiêu đã xác định. Chiến lược chính là những giải pháp định hướng giúp doanh nghiệp đạt được những mục tiêu dài hạn.

Đặc trưng của chiến lược kinh doanh của một doanh nghiệp:

– Tính định hướng dài hạn: chiến lược kinh doanh đặt ra những mục tiêu và xác định hướng phát triển của doanh nghiệp trong thời kỳ dài hạn (3 năm, 5 năm nhằm định hướng hoạt động cho doanh nghiệp trong một môi trường kinh doanh đầy biến động).
– Tính mục tiêu: chiến lược kinh doanh thường xác định rõ mục tiêu cơ bản, những phương hướng kinh doanh của từng doanh nghiệp trong từng thời kỳ và những chính sách nhằm thực hiện đúng mục tiêu đã đề ra.
– Tính phù hợp: Điều này đòi hỏi các doanh nghiệp khi xây dựng chiến lược kinh doanh cần phải đánh giá đúng thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Đồng thời phải thường xuyên rà soát và điều chỉnh để phù hợp với những biến đổi của môi trường.
– Tính liên tục: chiến lược kinh doanh phải được phản ánh trong suốt quá trình liên tục từ khâu xây dựng, tổ chức thực hiện, kiểm tra đánh giá đến điều chỉnh chiến lược.
– Chiến lược kinh doanh trong điều kiện ngày nay không thể nào tách rời khỏi cạnh tranh vì chiến lược kinh doanh một phần đảm bảo cho doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh trên thị trường. Trong quá trình toàn cầu hoá hiện nay, các hoạt động kinh doanh đã được kết nối ở khắp nơi trên thế giới tạo nên sự ảnh hưởng và phụ thuộc lẫn nhau. Từ đó đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt giữa các doanh nghiệp trong ngành cũng như giữa các ngành trong nền kinh tế.

Các bài viết xem thêm:

đặc trưng của chiến lược kinh doanh

Mô hình SERVQUAL

Đặc điểm của dịch vụ

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vu: viết thuê luận văn thạc sĩ uy tín , làm chuyên đề tốt nghiệp thuê , viet tieu luan  … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Khái niệm chiến lược và đặc trưng của chiến lược kinh doanh
5 (100%) 1 vote