Thực trạng và giải pháp nhằm hạn chế hoạt động chuyển giá ở Việt Nam

1. Khái niệm về chuyển giá:

Chuyển giá là việc lợi dụng quyền tự do định đoạt giá trong kinh doanh nhằm thay đổi giá đối với hàng hóa, dịch vụ và tài sản chuyển dịch giữa các doanh nghiệp không theo giá thị trường, để tối thiểu hóa số thuế phải nộp của các công ty này. Cách thức chuyển giá sẽ dẫn đến tăng số thuế phải nộp của “đầu mối liên kết” ở nước này, đồng thời giảm thuế số thuế phải nộp ở nước khác, nhưng rốt cuộc khi tổng hợp chung tất cả các bên thì vẫn giảm số thuế phải nộp. Mục tiêu của chuyển giá là nhằm tối đa hoá lợi nhuận của cả một tập đoàn, công ty đa quốc gia hay nhóm công ty có mối quan hệ liên kết trên cơ sở giảm thiểu nghĩa vụ về thuế.

2. Phạm vi của chuyển giá:

Trên thực tế, chuyển giá thường được quan tâm đánh giá đối với các giao dịch quốc tế hơn do sự khác biệt về chính sách thuế giữa các quốc gia được thể hiện rõ hơn. Theo đó, giao dịch quốc tế được xác định là giao dịch giữa hai hay nhiều doanh nghiệp liên kết mà trong số đó có đối tượng tham gia là chủ thể không cư trú (non-residents). Sự khác biệt chính yếu nằm ở sự cách biệt về mức thuế suất thuế TNDN của các quốc gia. Một giá trị lợi nhuận chuyển qua giá từ doanh nghiệp liên kết cư trú tại quốc gia có thuế suất cao sang doanh nghiệp liên kết ở quốc gia có thuế suất thấp. Ngược lại một lượng chi phí tăng lên qua giá mua sẽ làm giảm thu nhập cục bộ ở quốc gia có thuế suất thuế thu nhập cao. Trong hai trường hợp đều cho ra những kết quả tương tự là làm tổng thu nhập sau thuế của toàn bộ nhóm liên kết tăng lên. Khía cạnh khác, các giao dịch trong nước có thể hưởng lợi từ chế độ ưu đãi, miễn giảm thuế. Thu nhập sẽ lại dịch chuyển từ doanh nghiệp liên kết không được hưởng ưu đãi hoặc ưu đãi với tỉ lệ thấp hơn sang doanh nghiệp liên kết có lợi thế hơn về điều này

 

3. THỰC TRẠNG CHUYỂN GIÁ Ở VIỆT NAM

3.1. Cơ sở pháp lý liên quan đến hoạt động chuyển giá:

Hành vi chuyển giá ở Việt Nam xuất hiện cùng với sự gia tăng các doanh nghiệp FDI. Động thái đầu tiên đánh dấu sự vào cuộc hóa giải vấn đề chuyển giá chính là sự ra đời của Thông tư 74/1997/TT-BTC hướng dẫn về thuế đối với nhà đầu tư nước ngoài, sau đó là Thông tư 89/1999/TT-BTC, Thông tư 13/2001/TT-BTC và Thông tư 117/2005/TTBTC. Các văn bản nói trên đã thể hiện tinh thần cơ bản xử lý vấn đề chuyển giá là xác định lại giá chuyển giao theo nguyên tắc giá thị trường sòng phẳng. Tuy nhiên, các văn bản nói trên chỉ dừng lại ở đối tượng áp dụng là các doanh nghiệp FDI mà chưa áp dụng đối với các doanh nghiệp trong nước, chưa có giải pháp chống chuyển giá nội địa.

Với sự ra đời của Thông tư 66/2010/TT-BTC, lần đầu tiên ở Việt Nam một văn bản pháp lý về chống chuyển giá được áp dụng cho tất cả các loại hình doanh nghiệp, cả doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp khác. Các quy định và các phương pháp xác định giá thị trường của Thông tư 66/2010/TT-BTC đã phù hợp với thông lệ quốc tế. Ở một cấp độ pháp lý cao hơn, Điểm e Khoản 1 Điều 37 Luật Quản lý thuế quy định cơ quan thuế có quyền ấn định thuế khi người nộp thuế.

Như vậy, có thể thấy, nỗ lực đầu tiên đáng ghi nhận của các cơ quan quản lý nhà nước thời gian qua là việc đã thiết lập và dần dần hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động chống chuyển giá, tạo những cơ sở nhất định cho hoạt động của ngành Thuế trong đấu tranh chống chuyển giá của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp FDI.

3.2. Tình hình chung về hoạt động chuyển giá hiện nay ở Việt Nam:

Việc trốn thuế, không chỉ có DN nước ngoài mà cả DN trong nước. Nhiều DN đầu tư nước ngoài một mặt tận dụng triệt để các chính sách ưu đãi của Việt Nam ; mặt khác, không ít DN đã “phù phép” với báo cáo kinh doanh, khai man giá và báo cáo lỗ triền miên trong thời gian dài để nhằm trốn thuế ở Việt Nam. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, qua kết quả thanh tra, kiểm tra về chuyển giá, cơ quan thuế đã làm giảm lỗ và truy thu thuế số tiến lên tới hàng trăm nghìn tỷ đồng.

4. Một số giải pháp nhằm hạn chế hoạt động chuyển giá  ở Việt Nam

Tại các nước phát triển nhóm OECD, các quy định về điều chỉnh chống chuyển giá đã được đưa ra từ những năm 1980; Trung Quốc cũng đã thực hiện các biện pháp chống chuyển giá từ những năm 1990. Tại Việt Nam, Các quy định pháp lý về chống chuyển giá vẫn chưa hoàn chỉnh, hoạt động chuyển giá diễn ra ngày càng phức tạp. Vì vậy trong thời gian tới để hạn chế hoạt động chuyển giá nội địa, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, Nhà nước cần khẩn trương hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu đáp ứng được yêu cầu khai thác, phân tích rủi ro làm căn cứ để xác định giá thị trường đối với giao dịch liên kết.  

Hiện tại, 66/2010/TT-BTC chính là cơ sở để đấu tranh chống chuyển giá. Thông tư này hướng dẫn việc xác định giá thị trường trong các giao dịch kinh doanh giữa các bên có quan hệ liên kết. Bên cạnh quy định về việc xác định giá trị giao dịch liên kết của các công ty có quan hệ liên kết ngoài lãnh thổ Việt Nam, thông tư còn áp dụng cả với những doanh nghiệp có quan hệ liên kết ở nội địa. Thông tư này có quy định về năm phương pháp tính để chống chuyển giá như phương pháp so sánh giá giao dịch độc lập; giá bán lại; giá vốn cộng lãi; so sánh lợi nhuận; tách lợi nhuận… Tuy nhiên, để làm được trong thực tế thì cán bộ thuế phải tốn nhiều công sức. Cách tính trên không quy định cho một đơn vị độc lập nào cung cấp dữ liệu để cơ quan thuế làm cơ sở đối chiếu, tham khảo. Muốn so sánh, cán bộ thuế phải tự đi khảo sát, kiểm tra, lấy số liệu từ thị trường và của các cơ quan liên quan. Nhà nước nên thành lập cơ quan chuyên đi khảo sát, kiểm tra, thu thập số liệu từ thị trường để cung cấp cơ sở dữ liệu để cán bộ thuế lấy đó là cơ sở để đối chiếu và so sánh để xác định hoạt động chuyển giá

Thứ hai, Nhà nước nên tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý về chống chuyển giá trong doanh nghiệp. Thực tế, khó khăn lớn nhất trong chống chuyển giá là xác định được giá thị trường, giá giao dịch độc lập. Do đó, cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế đang được kỳ vọng sẽ là công cụ hỗ trợ rất đắc lực cho công tác chống chuyển giá. Ngoài ra, Nhà nước cũng nên ban hành Luật Chống chuyển giá làm cơ sở pháp lý cho hoạt động chống chuyển giá, cũng như quản lý hiệu quả các sắc thuế khác. Rõ ràng, tác hại do hành vi chuyển giá gây ra là rất lớn khi nó không chỉ làm thất thoát nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, mà còn làm mất cân đối thương mại, méo mó thị trường, gây nhiều nguy hại cho nền kinh tế, do đó với các vi phạm này phải có chế tài xử lý chặt chẽ và đủ mạnh để ngăn chặn và răn đe các doanh nghiệp khác chưa vi phạm. Chúng ta có thể tham khảo chế tài xử phạt của một số nước như Úc, họ phạt 50% số thuế tránh được nếu phát hiện doanh nghiệp chuyển giá; Ấn Độ phạt đến 300%; Philippines 25-50% số thuế tránh được và phải chịu lãi suất 20%/năm…

Thứ ba, về lâu dài, ngành thuế cần tăng cường chất lượng nguồn nhân lực của ngành. Hiện nay mức độ hiểu biết của công chức thuế về chuyển giá và kinh nghiệm thực tiễn về quản lý giá chuyển nhượng cũng còn hạn chế, nên công tác quản lý các hoạt động giao dịch liên kết chưa thực sự đạt kết quả. Làm về công tác chống chuyển giá này, thực sự cán bộ thuế cũng đang phải tự nghiên cứu hoặc từ kinh nghiệm công tác của mình. Cán bộ thuế chuyên trách về chuyển giá, được đào tạo bài bản và chuyên sâu hiện tại vẫn chưa có. Chủ yếu vẫn là từ kinh nghiệm hoặc đi tập huấn ở nước ngoài với thời gian ngắn. Ngành Thuế cần xem xét hình thành bộ phận chuyên trách quản lý thuế đối với hoạt động chuyển giá, hoặc lồng ghép với các chức năng quản lý thuế khác một cách phù hợp. Đồng thời, có kế hoạch bồi dưỡng, nâng cao năng lực quản lý cho công chức trên cơ sở đánh giá năng lực, xác định nhu cầu và kế hoạch đào tạo, đảm bảo lực lượng này sẽ làm nòng cốt cho việc quản lý thuế chống chuyển giá tại các địa phương,

Thứ tư, để kiểm soát được việc chuyển giá của doanh nghiệp trong nước, Nhà nước cần phải thu hẹp những ưu đãi về thuế dễ gây lạm dụng, nhất là chênh lệch mức thuế giữa các địa phương. Thay vì thực hiện biệp pháp ưu đãi về thuế để thu hút đầu tư, nên sử dụng những ưu đãi khác như: hỗ trợ phát triển kết cấu hạ tầng, hỗ trợ đào tạo và phát triển nguồn nhân lực…

Thứ năm, Cơ quan thuế cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền để tranh thủ sự đồng thuận của các cấp chính quyền, xã hội và cộng đồng các doanh nghiệp, đồng thời tăng cường thanh tra chống chuyển giá theo các chuyên đề cụ thể để nâng cao chất lượng quản lý thuế trên từng lĩnh vực.

Thứ sáu, Nhà nước cần phải tuyên truyền để nâng cao nhận thức chấp hành pháp luật nói chung và pháp luật thuế nói riêng cho doanh nghiệp. Công tác tuyên truyền cần thực hiện tốt để doanh nghiệp hiểu được là Nhà nước tạo mọi điều kiện hoạt động sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải có nghĩa vụ đóng góp trở lại để phát triển cơ sở hạ tầng. Đất nước có phát triển thì thương hiệu của các doanh nghiệp cũng mới phát triển theo và được thế giới ghi nhận, thêm nhiều giá trị gia tăng.

Các bài viết có thể xem thêm:

Đặc điểm của dịch vụ

+ Khái niệm chất lượng dịch vụ

+ Khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vunhan lam thue luan van thac si , viết essay tiếng anh , viet tieu luan thue … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

Thực trạng và giải pháp nhằm hạn chế hoạt động chuyển giá ở Việt Nam
5 (100%) 1 vote

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *