khái niệm và mốt số đặc trưng của quyền con người

1. Khái niệm quyền con người

Quyền con người là một khái niệm khá phức tạp, liên quan tới nhiều lĩnh vực như đạo đức, chính trị, pháp lý… Hiện nay có rất nhiều định nghĩa về quyền con người, mỗi định nghĩa tiếp cận quyền con người theo một góc độ khác nhau. Theo nghĩa chung nhất: Quyền con người là những quyền cơ bản, không thể tước bỏ mà một người vốn được thừa hưởng đơn giản vì họ là con người. Hay, quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhận và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người.

Ở Việt Nam, trong giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, quyền con người được định nghĩa là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Trong các bản Hiên pháp nói chung, quyền con người được hiểu là quyền được áp dụng cho tất cả mọi người thuộc mọi dân tộc đang sinh sống trên phạm vi toàn cầu, không phân biệt quốc tịch, không phụ thuộc vào biên giới quốc gia hay tư cách cá nhân cụ thể, thể hiện mối quan hệ giữa cá nhân với toàn thể cộng đồng nhân loại. Vì thế Hiến pháp ghi nhận các quyền được áp dụng cho “mọi người” là quyền con người, ví dụ như quy định tại Điều 16, 19, 20, 21, 24, 30, 33 … của Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013.

Hiện nay, có rất nhiều cách phân loại quyền con người nhưng chủ yếu là theo lĩnh vực. trong các lĩnh vực của đời sống, quyền con người được phân thành hai nhóm chính: nhóm các quyền kinh tế – xã hội – văn hóa. Nhóm quyền chính trị – dân sự bao gồm các quyền như: quyền bầu cử, ứng cử; quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội; các quyền tự do cơ bản; quyền được bảo đảm an ninh cá nhân; quyền bình đẳng;… Nhóm quyền kinh tế – xã hội – văn hóa bao gồm quyền làm việc, quyền sở hữu quyền kinh doanh, quyền được bảo vệ sức khỏe, quyền được học tập và sáng tạo; quyền hoạt động văn hóa – nghệ thuật…

Các bài viết có thể xem thêm:

khái niệm phát triển nguồn nhân lực

Mô hình SERVQUAL

Mô hình SERVQUAL đánh giá chất lượng dịch vụ

2. Một số đặc trưng cơ bản của quyền con người

Thứ nhất, quyền con người mang tính lịch sử – xã hội, gắn bó chặt chẽ đối với mỗi con người cả ở cấp độ cá nhân lẫn cấp độ xã hội.

Thứ hai, quyền con người là những giá trị mang tính đa quốc gia (quốc tế), được sự quan tâm của toàn nhân loại, tất cả các quốc gia và mỗi cá nhân trong xã hội. Luôn luôn phổ biến, hiện hữu và được thừa nhận chung, phải được thực hiện và bảo đảm ở mọi nơi. Phải được cụ thể hóa bằng các thế chế thành các quyền năng cụ thể và phải có cơ chế kiểm tra việc thực thi nó trong thực tế ở mọi cấp độ (quốc tế và quốc gia). Song bên cạnh tính phổ biến chung, thì quyền con người còn có tính đặc trưng riêng biệt, do con người chỉ được thụ hưởng quyền trong những điều kiện kinh tế, chính trị – xã hội, trong từng giai đoạn khác nhau của xã hội loài người và trong từng quốc gia.

Thứ ba, quyền con người vừa mang tính chất tự nhiên vừa mang tính chất xã hội. Do đó, quyền con người phải được thể chế hóa thành các quy định pháp luật, ghi nhận nó thành các quyền, bảo đảm thực thi và bảo đảm quyền đó nếu bị vi phạm. Bởi con người sinh ra tự thân sẽ có những quyền con người nhưng chỉ trong xã hội có pháp luật, thì con người mới được hưởng quyền và được bảo đảm quyền. Có thể thấy, chỉ thông qua pháp luật và cùng với thiết chế giám sát, kiểm tra việc thực hiện nó thì những giá trị quyền con người mang tính chất tự nhiên và xã hội mới bền vững và hiệu quả được.

Với các đặc trưng về quyền con người trên, có thể khẳng định quyền con người luôn là mục đích chung phải hướng đến và đạt được của nhân loại, đồng thời khẳng định rõ tính lịch sử, tính chính trị – xã hội với hai cơ sở tự nhiên và xã hội của quyền con người. Như vậy, tác giả cho rằng: Quyền con người là những đặc lợi tự nhiên, mang tính lịch sử – xã hội, được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật ở cấp độ quốc tế và quốc gia, đồng thời được bảo đảm thực thi và giám sát trong thực tế bởi các cơ chế khác nhau.

Theo quy định tại các Điều 11, Điều 14, Điều 15 Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966, quyền con người trong lĩnh vực tư pháp hình sự bao gồm:

Quyền được xét xử công bằng và công khai bởi một Tòa án có thẩm quyền, độc lập, không thiên vị; quyền được đưa ra xét xử mà không bị trì hoãn một cách vô lý; quyền được có mặt trong khi xét xử; quyền không bị áp dụng hồi tố; quyền yêu cầu Tòa án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt đối với mình theo quy định của pháp luật; quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền tự do cá nhân khác; người chưa thành niên được áp dụng thủ tục tố tụng hình sự đặc biệt [11, tr. 10 – 11].

Tiếp thu nội dung quyền con người trong các văn bản pháp luật quốc tế, Điều 52 Hiến pháp nước ta năm 1992 (sửa đổi, bổ sung năm 2001) quy định “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật”; “công dân có quyền bất khả xâm phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm” (Điều 71 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001) [20]. Hiến pháp năm 2013 nước ta đã quy định “quyền của người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp thời trong thời hạn luật định” [23, Điều 31, Khoản 2]. BLTTHS năm 2003 mặc dù đang dự thảo để sửa đổi, bổ sung, song đã có nhiều quy định thể hiện tư tưởng quyền con người vào nhiều điều luật cụ thể. Có thể thấy đó là các quyền: quyền được bào chữa, được nhận các quyết định tố tụng theo quy định của pháp luật; quyền được xét xử trong thời gian luật định; quyền không bị truy bức, nhục hình; quyền bình đẳng trước pháp luật; bình đẳng trước TA; quyền được xét xử hai cấp; quyền được xét xử công khai; quyền được kháng cáo v.v…

Xét riêng ở phương diện quyền con người trong tố tụng hình sự cho thấy, đây là nơi quyền con người chịu sự tác động rất lớn từ các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng khi giải quyết VAHS, trong đó trọng tâm là xét xử VAHS. Do vậy, đây cũng là nơi quyền con người rất dễ bị xâm phạm và hậu quả của việc quyền con người bị xâm phạm thường để lại hậu quả rất lớn cho xã hội. Quyền con người trong tố tụng hình sự được thể hiện ở hai khía cạnh: một là, xử lý người phạm tội trước pháp luật, qua đó bảo vệ quyền con người nói chung; hai là, khi tiến hành tố tụng các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải bảo đảm được quyền của không chỉ người phạm tội mà còn của những người tham gia tố tụng khác, đồng thời ngăn ngừa nguy cơ lạm dụng từ phía những người tiến hành tố tụng. Có nghĩa là: “Xử lý nhanh chóng, kịp thời, đúng pháp luật đối với những tội phạm xâm phạm quyền con người và đảm bảo không làm ảnh hưởng tới quyền con người khi tiến hành tố tụng” [9]. Hiện nay, việc hiểu và đưa ra khái niệm về quyền con người trong tố tụng hình sự chưa nhiều và chủ yếu được tiếp cận ở một khía cạnh là quyền con người của người yếu thế trong tố tụng hình sự là bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác. Do đó, việc đưa ra khái niệm về quyền con người trong tố tụng hình sự cũng phụ thuộc nhiều vào khía cạnh tiếp cận đó. Có quan điểm cho rằng “Quyền con người trong tố tụng hình sự là những giá trị thiêng liêng chỉ dành cho con người khi họ tham gia quan hệ pháp luật tố tụng hình sự mà Nhà nước có nghĩa vụ phải ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện trên thực tế” [13, tr. 9]. Tác giả cho rằng, quyền con người trong tố tụng hình sự cần được mở rộng cách hiểu theo nghĩa bảo hàm cả quyền của con người của những người không tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự và quyền của những người tham gia vào tố tụng hình sự. Quyền con người trong tố tụng hình sự do pháp luật tố tụng hình sự quy định trên cơ sở phù hợp với các chuẩn mực quốc tế về quyền con người, gồm các nhóm quyền về tính mạng, sức khỏe, danh dự, uy tín, nhân phẩm, tài sản v.v… và các nhóm quyền bảo đảm được xét xử bởi TA độc lập, xét xử bình đẳng và đúng pháp luật. Những quyền này bao gồm cả quyền của những người yếu thế khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng và quyền chung của cả những người không tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng – đó là cộng đồng xã hội. Mục đích bảo đảm quyền của mọi người trong xã hội trước hành vi phạm tội và bảo đảm quyền của những người yếu thế tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự. Vậy có thể định nghĩa quyền con người trong tố tụng hình sự như sau: Quyền con người trong tố tụng hình sự là quyền con người nói chung và quyền của những người tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự, do pháp luật tố tụng hình sự mỗi quốc gia quy định trên cơ sở phù hợp với tiêu chí quyền con người trong pháp luật quốc tế nhằm bảo đảm quyền con người trước hành vi phạm tội, bảo đảm quyền con người của những người yếu thế khi tham gia vào quan hệ pháp luật tố tụng hình sự đúng pháp luật.

Quyền con người được đặt ra để bảo đảm thực hiện trong thực tế, việc tách biệt giữa quyền con người và bảo đảm quyền con người sẽ không giải quyết được yêu cầu đặt ra. Quyền con người và bảo đảm quyền con người phải được pháp luật ghi nhận, đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng hình sự, nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc thực thi, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm quyền con người trong thực tiễn tố tụng.

3. Các quyền con người được tôn trọng như thế nào trong truyền thống và lịch sử Việt Nam

Với ý nghĩa là nền tảng của sự tôn trọng các quyền con người, lòng khoan dung, nhân đạo là những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Điều này cơ bản xuất phát từ lịch sử hàng ngàn năm kiên cường chống chọi với thiên tai và các thế lực ngoại xâm của người Việt. Chính lịch sử thăng trầm và điều kiện sống khắc nghiệt đã hun đúc lên những giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu của dân tộc Việt Nam, trong đó có tinh thần nhân ái, độ lượng và vị tha trong đối xử với những người lầm lỗi, ngay cả với những kẻ xâm lược…

Tư tưởng khoan dung, nhân đạo kể trên trước hết thể hiện trong các truyền thuyết và kho tàng thơ ca dân gian của Việt Nam. Những tư tưởng đó còn ảnh hưởng đến cách thức cầm quyền qua các thời đại. Từ thời các vua Hùng dựng nước, các triều đại phong kiến Việt Nam đã chú ý kết hợp giữa “nhân trị” với “pháp trị”, giữa “trị quốc” và “an dân”. Tư tưởng “lấy dân làm gốc” đã được Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi đề cập một cách trực tiếp và gián tiếp từ những thế kỷ XIV, XV…Có lẽ bởi vậy, lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam không có nhiều trang tàn bạo, khốc liệt như ở nhiều nước khác trên thế giới mà ngược lại, hầu như ở thời kỳ nào cũng có những ví dụ về tinh thần khoan dung, nhân đạo đối với những kẻ lầm lạc và kể cả những tên giặc ngoại xâm.

Vào thời kỳ nhà Lý, bộ Hình thư được ban hành là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử pháp quyền Việt Nam, nội dung của bộ luật thể hiện tính nhân đạo rất cao. Mặc dù được ban hành để bảo vệ quyền lợi của Nhà nước phong kiến tập quyền, song bộ luật này đã bao gồm những quy định nhằm hạn chế sự lộng quyền, lạm quyền áp bức dân lành của giới quan liêu quý tộc. Bộ luật này còn chứa đựng nhiều quy định giàu tính nhân văn, nhân đạo, chẳng hạn như quy định cấm mua bán và bắt hoàng nam (trẻ em trai) làm nô lệ,  không quy định hình phạt tử hình… Hội nghị Diên Hồng (1284) dưới triều Trần thể hiện một cách đặc biệt sinh động tinh thần lấy dân làm gốc. Tư tưởng này sau đó cũng được khắc họa bởi vị anh hùng dân tộc Trần Hưng Đạo, người trước khi qua đời còn khuyên vua cần quan tâm đến dân, “khoan thư sức dân” để làm kế “sâu rễ bền gốc”. Ở một góc độ khác, tinh thần nhân đạo, nhân văn thời nhà Trần còn được phản ánh qua hình ảnh của nhà vua Trần Nhân Tôn, người được coi là một Phật hoàng, hay qua việc nhà Trần đối xử nhân đạo với tù binh.

Tinh thần khoan dung, nhân đạo ở thời Lê được thể hiện ngay trong giai đoạn xây dựng vương triều, qua việc đối xử khoan dung với 10 vạn quân Minh bại trận. Đặc biệt ở thời Lê là bộ “Quốc triều hình luật” (thế kỷ XV), hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức. Bộ luật này – đã kế thừa những giá trị tinh hoa truyền thống về kỹ thuật lập pháp và đặc biệt là tư tưởng nhân đạo của dân tộc – được nhiều nhà luật học trong và ngoài nước coi là một trong bộ luật chặt chẽ, đầy đủ, tiến bộ nhất của các triều đại phong kiến Việt Nam, có thể xếp ngang hàng với những bộ luật nổi tiếng trên thế giới. Bộ luật chứa đựng nhiều điều khoản có ý nghĩa khẳng định và bảo vệ các quyền con người, tiêu biểu như: bảo vệ tính mạng, nhân phẩm và tài sản của người dân; bảo vệ người dân khỏi bị nhũng nhiễu bởi giới quan lại, cường hào; bảo vệ những đối tượng yếu thế trong xã hội (những người mồ côi, con nuôi, những kẻ đau ốm không nơi nương tựa, những người goá vợ, goá chồng, tàn tật, nghèo khổ không thể tự mình mưu sống, người chết không có thân nhân…); bảo vệ quyền bình đẳng của phụ nữ… Đến triều đại Tây Sơn, mặc dù chỉ duy trì được vương quyền trong một thời gian ngắn (1789 – 1802), song qua một số chiếu chỉ của Vua Quang Trung như chiếu lên ngôi, chiếu cầu hiền, chiếu khuyến nông, chiếu lập học…cũng cho thấy sự kế thừa tinh thần nhân văn của dân tộc một cách rất rõ nét. Triều Nguyễn, mặc dù bộ “Hoàng triều luật lệ” (còn gọi là Bộ luật Gia Long) bị coi là khắc nghiệt, song nhiều vua nhà Nguyễn cũng có những chính sách tiến bộ và phản ánh tinh thần nhân văn, nhân đạo của dân tộc, trong đó có những chính sách chiêu mộ người dân khai khẩn đất hoang mà đã góp phần mở mang bờ cõi cho dân tộc về phía Nam nhiều hơn tất cả các triều đại trước cộng lại…

Tư tưởng về quyền con người xuyên suốt trong thời kỳ phong kiến ở Việt Nam còn thể hiện ở truyền thống dân chủ trong nhiều lĩnh vực, mà tiêu biểu là trong việc quản lý cộng đồng, tuyển dụng và sử dụng nhân tài, trong việc thảo luận và quyết định các công việc quốc gia đại sự. Như vậy, có thể khẳng định dân tộc Việt Nam có truyền thống nhân đạo và tôn trọng con người, nhiều triều đại trong lịch sử đã biết trân trọng ý kiến nhân dân ở những mức độ nhất định.

Hiện tại, chúng tôi đang cung cấp các dịch vu: dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ , viết essay ielts , nhận làm tiểu luận thuê … chuyên nghiệp nhất thị trường. Nếu bạn không có thời gian hoàn thành bài luận, hãy liên hệ ngay cho chúng tôi nhé!

khái niệm và mốt số đặc trưng của quyền con người
5 (100%) 1 vote

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *