Những tồn tại, yếu kém chung của nền giáo dục

Những tồn tại, yếu kém chung của nền giáo dục

Theo đánh giá của Ban Bí thư Trung Ương Đảng thì quy mô giáo dục có sự tăng trưởng mạnh; cơ cấu hệ thống giáo dục quốc dân từng bước được cải thiện; chất lượng giáo dục có một số chuyển biến tích cực; chủ trương xã hội hoá giáo dục bước đầu được triển khai có hiệu quả.

Tuy nhiên nhìn tổng thể về cả quy mô và chất lượng đào tạo, giáo dục nước ta chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi lớn và ngày càng cao về nhân lực của các mục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, tiến tới xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Điều này được thể hiện trên các mặt:

1. Chất lượng và hiệu quả giáo dục – đào tạo

Chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển đất nước, chưa tiếp cận được với trình độ và kết quả giáo dục ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Chất lượng thấp thể hiện ở chỗ: Kiến thức hội nhập của học sinh, sinh viên Việt Nam quá kém;  Sau khi tốt nghiệp ra trường họ còn hạn chế về năng lực, tư duy sáng tạo, về kỹ năng thực hành, về khả năng thích ứng nghề nghiệp.

Bên cạnh đó kiến thức phổ thông đại trà rất thấp… Hiệu quả hoạt động giáo dục chưa cao. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp cuối cấp so với nhập học đầu cấp còn thấp. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn hạn chế, nhiều học sinh, sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường chưa có việc làm…

Những tồn tại, yếu kém chung của nền giáo dục
Những tồn tại, yếu kém chung của nền giáo dục

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Quản lý giáo dục hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

2. Về cơ cấu giáo dục – đào tạo

Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề, cơ cấu vùng miền đã được khắc phục một bước song vẫn còn mất cân đối; Cơ cấu vùng miền còn nhiều sự bất hợp lý. Nhất là giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp, tập trung quá nhiều vào các thành phố lớn, khu công nghiệp lớn, nhiều tỉnh không có một trường đại học nếu có chỉ là một vài trường cao đẳng sư phạm để đào tạo giáo viên phổ thông cho địa phương đó mà thôi; Hình thức đào tạo cũng tỏ ra nhiều bất cập. Giáo dục nước ta chưa chú trọng nhiều đến hình thức giáo dục không chính quy, giáo dục bên ngoài nhà trường, đặc biệt cho những người đang lao động.

3. Đội ngũ nhà giáo

Nhìn chung đội ngũ nhà giáo thiếu về số lượng và thấp về chất lượng, chưa đáp ứng được yêu cầu vừa phải tăng nhanh quy mô vừa phải đảm bảo và nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục – đào tạo. Đặc biệt là đội ngũ giảng viên các trường đại học ít có điều kiện thường xuyên tiếp cận, cập nhật tri thức và những thành tựu khoa học công nghệ mới của thế giới. Tỷ lệ giáo viên quá thấp (1/50, thậm chí 1/150) đã gây ra tình trạng cường độ làm việc căng thẳng cho giáo viên.

Tốc độ tăng giáo viên ở các trường đại học không tương xứng với tốc độ tăng của sinh viên (năm học 1996 – 1997 có 731.505 sinh viên và 24.362 giáo viên, năm học 2000 – 2001 là 918.228 sinh viên và 32.205 giáo viên, đến năm 2003 – 2004 có 1.131.030 sinh viên và 39.985 giáo viên).

4. Ngân sách giáo dục và đào tạo

Ngân sách dành cho giáo dục của Việt Nam còn rất thấp so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Mặc dù đã cố gắng nhiều, song ngân sách nhà nước chỉ mới đáp ứng được khoảng 70% nhu cầu tối thiểu của giáo dục – đào tạo. Bên cạnh đó, việc phân bổ ngân sách giữa các bậc học, giữa các địa phương không hợp lý đã tạo nên sự mất cân đối trong phát triển giáo dục ở các bậc học và các vùng.

5. Cơ sở vật chất kỹ thuật

Cơ sở vật chất, kỹ thuật vẫn chưa thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu. Nhiều nơi, chưa thanh toán hết tình trạng lớp học ba ca. Tình trạng dạy chay còn phổ biến. Việc nối mạng Internet trong các trường học còn chưa đáng kể. Yêu cầu chuẩn hóa, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật vẫn đang là một thách thức lớn.

6. Chương trình, phương pháp giáo dục

Chương trình, giáo trình, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chậm hiện đại hoá. Chương trình giáo dục còn mang nặng tính hàn lâm, kinh viện, nặng về thi cử; chưa chú trọng đến tính sáng tạo, năng lực thực hành và hướng nghiệp; chưa gắn bó chặt chẽ với nhu cầu của  thực tiễn phát triển kinh tế – xã hội cũng như nhu cầu của người học; chưa gắn bó hiệu quả với nghiên cứu khoa học – công nghệ và triển khai ứng dụng.

Tham khảo thêm:

Khái niệm giáo dục và giáo dục mần non là gì?

Những thành tựu của giáo dục – đào tạo ở nước ta trong thời gian qua

Những tồn tại, yếu kém chung của nền giáo dục
Rate this post

8 sai lầm cần tránh khi viết email marketing

Viết email tốt có thể là điều quan trọng cho sự thành công của bạn. Để tránh những lỗi có thể xảy ra khi giao tiếp qua email, đây là những điều bạn phải tránh.

Không định dạng phông chữ

Nếu bạn đã sao chép và dán một phần văn bản vào email của mình, hãy luôn định dạng nó, do đó, email của bạn sẽ nhất quán. Điều này cũng đơn giản như làm nổi bật văn bản và thay đổi phông chữ do đó chỉ cần đảm bảo rằng bạn cẩn thận chỉnh sửa hình thức email.

Lỗi chính tả tên công ty của bạn

Một cách khác khiến khách hàng không coi trọng bạn là viết tên công ty của bạn sai. Đây là điều cơ bản nên không có lí do gì để có sai sót.

Không kiểm tra ngữ pháp

Ngữ pháp là một phần quan trọng trong việc viết email, vì vậy điều quan trọng là bạn làm đúng. Sử dụng đúng ngữ pháp sẽ giúp cải thiện khả năng đọc và cấu trúc email của bạn.

Không chỉnh sửa email

Như các nhà văn lớn cũng không thể viết trơn tru trong lần đầu tiên vì để viết một nội dung hay là không đơn giản. Đây là lý do tại sao bạn nên chỉnh sửa email của mình trước khi gửi chúng. Bạn có thể muốn làm điều này một lần, hai lần hoặc thậm chí ba lần.

Không định dạng email của bạn giống như một email

Nếu email của bạn chỉ là khối văn bản lớn và không được định dạng cho việc đọc dễ dàng như email, bạn sẽ chỉ tăng nguy cơ bị hiểu nhầm, và người đọc của bạn sẽ nghi ngờ bạn và sự tin cậy của doanh nghiệp.

Khoảng cách thông tin

Hãy tưởng tượng bạn đang yêu cầu người nhận email của bạn xác định thời gian tốt nhất để tổ chức một cuộc họp. Thay vì liệt kê thời gian ưa thích của bạn trong một đoạn văn bản liền nhau, hãy sử dụng các điểm bullets hoặc danh sách nội tuyến. Điều này làm cho email của bạn dễ đọc hơn, chứ không phải là một đoạn văn xuôi khiến người đọc dễ hiểu lầm.

Tránh các công cụ trực tuyến

Nhờ công nghệ hiện đại ngày nay, hiện nay có hàng ngàn công cụ được thiết kế để làm cho cuộc sống của bạn dễ dàng hơn, nhanh nhất và hiệu quả hơn. Nhưng cũng chính như vậy sẽ khiến bạn không biết cách viết một email marketing chuyên nghiệp.

Rủi ro chất lượng kém

Bất kể bạn gửi email đến ai, nếu bạn gửi những email có chất lượng kém, nó sẽ phản ánh rất tồi tệ đối với bạn. Thay vào đó, sử dụng các công cụ viết, chẳng hạn như Viết bài báo của tôi, để tạo và viết email của bạn nhân danh bạn, giảm thiểu nguy cơ có bất kỳ phản ứng phụ hoặc phản hồi tiêu cực nào.

Xem thêm:

8 sai lầm cần tránh khi viết email marketing
Rate this post

Tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp nhà nước

Tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp nhà nước

1/ Tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước

Thực hiện việc tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước là để làm giảm đi những doanh nghiệp nhà nước kinh doanh thua lỗ.

Các biện pháp tô chức lại doanh nghiệp là:

– Sáp nhập doanh nghiệp: trường hợp sáp nhập là trên cùng một địa bàn, cùng loại hoạt động kinh doanh những doanh nghiệp làm ăn yếu kém thua lỗ sẽ sáp nhập vào một doanh nghiệp. Doanh nghiệp tiếp. nhận vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân nhưng phải đăng ký lại vốn điều lệ, đăng ký lại ngành nghề kinh doanh sau khi sáp nhập.

– Chia doanh nghiệp: Trong trường hợp là tông công ty có liên kết rời rạc làm ăn kém hiệu quả phải tô chức lại băng cách tách một số hoặc tất cả các thành viên ra khỏi tông công ty để các doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả hơn.

Tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp nhà nước
Tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp nhà nước

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Luật hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Luật của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

2/ Giải thể doanh nghiệp nhà nước

Giải thể doanh nghiệp nhà nước xảy ra trong các trường hợp sau:

– Hết thời hạn ghi trong quyết định giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (doanh nghiệp không xin ra hạn).

– Doanh nghiệp làm ăn thua lỗ kéo dài không có biện pháp khắc phục được (chưa lâm vào tình trạng mât khả năng thanh toán nợ đến hạn).

– Doanh nghiệp không thực hiện được các nhiệm vụ do nhà nước giao.

– Vai trò của doanh nghiệp không còn cần thiết nữa khi doanh nghiệp đã hoàn thành mục tiêu đã định hoặc cơ chê, chính sách nhà nước thay đổi và việc duy trì doanh nghiệp không có lợi nên cân giải thể.

Quyền quyết định việc giải thể doanh nghiệp thuộc về cấp có thâm quyền thành lập doanh nghiệp và việc giải thê được tiến hành đúng với quy định nhà nước về giải thê doanh nghiệp nhà nước.

3/ Phá sản doanh nghiệp nhà nước

Tình trạng dẫn đến phá sản của doanh nghiệp nhà nước cũng giống như các loại hình doanh nghiệp khác là do làm ăn thua lỗ kéo dài dẫn đến doanh nghiệp lâm vào tình trạng có nguy cơ phá sản trâm trọng, hoàn toàn mắt khả năng thanh toán nợ đến hạn.

Trong các doanh nghiệp nhà nước thì loại doanh nghiệp hoạt động công ích ít có nguy cơ bị phá sản, bởi vì đối với loại doanh nghiệp này nhà nước thực hiện cơ chế quản lý gần giống với cơ chế bao cấp hành chính trước đây.

Trình tự thủ tục phá sản của các doanh nghiệp nhà nước cũng giống như trình tự thủ tục của các loại hình doanh nghiệp khác. Có một số doanh nghiệp nhà nước kinh doanh trong những lĩnh vực đặc biệt quan trọng thì nhà nước có thể xem xét dùng biện pháp nhiều mặt đề bảo vệ doanh nghiệp khỏi bị phá sản vì vậy khi doanh nghiệp nhà nước lâm vào nguy cơ bị phá sản tòa án chỉ mở thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản khi có ý kiến của cơ quan nhà nước có thẩm quyền từ chối áp dụng các chính sách tài chính giúp doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng bị phá sản.

Tham khảo thêm:

Thủ tục thành lập, quyền và nghĩa vụ doanh nghiệp nhà nước

Khái niệm và các loại hình doanh nghiệp tập thể

Tổ chức lại, giải thể và phá sản doanh nghiệp nhà nước
Rate this post

Phân tích hiệu quả của Digital Marketing Cho Ngành Hàng Tiêu Dùng

Rõ ràng, không thể phủ nhận sự thật hiển nhiên rằng, các marketer đang chuyển mình với hình thức Digital Marketing. Thời đại mà con người tiếp xúc, tiêu thụ nội dung số ngày càng nhiều hơn, các mạng xã hội (facebook, instagram, pinterest,…) phủ sóng đến hang cùng ngõ hẻm, từ người già đến người trẻ đều có cho riêng mình một tài khoản facebook. Cùng với đó là sự phát triển chóng mặt của công nghệ đã giúp cho việc sở hữu một chiếc smartphone là chuyện vô cùng đơn giản.

Sử dụng Digital Marketing hiệu quả

Đặc biệt trong ngành hàng tiêu dùng trong vài năm trở lại đây liên tục xuất hiện những sàn giao dịch thương mại điện tử có thể kể đến như: enbac.com, vatgia.com, muare.vn, lazada.vn,… làm cho việc mua bán hàng hoá trên mạng internet trở nên dễ dàng hơn bao giờ hết. Không những vậy người tiêu dùng còn có vô số sự lựa chọn tốt nhất cho mình khi các trang bán hàng theo kiểu mua chung (groupon) xuất hiện ngày càng nhiều (muachung, nhommua, hotdeal,…). Đây vừa là cơ hội nhưng cũng là thách thức cho các nhãn hiệu và các nhà kinh doanh trong ngành hàng tiêu dùng.

Cuộc chiến trên mạng xã hội bằng cách sử dụng digital marketing

Tính đến cuối năm 2015, trang mạng xã hội Facebook đã có 1,49 tỷ người dùng hàng tháng và tại riêng Việt Nam con số này là hơn 30 triệu người. Vậy nên không khó hiểu khi hầu hết tất cả các thương hiệu lớn nhỏ đều đã có fanpage của mình trên mạng xã hội lớn nhất hành tinh này, nhằm tăng mức độ phủ sóng của thương hiệu. Nhưng cũng chính vì có quá nhiều thương hiệu, quá nhiều quảng cáo, quá nhiều bài PR nên dường như người dùng đang bị bội thực với thông tin trên mạng xã hội.

Một người dùng Facebook phải nhìn thấy hàng trăm quảng cáo mỗi ngày, điều này dẫn đến việc các thông tin quảng cáo trên Facebook sẽ càng mất đi sự tin tưởng mà lẽ ra điều quan trọng nhất khi xây dựng thương hiệu là có lòng tin của khách hàng.

Digital Marketing Ngành hàng tiêu dùng nhanh

Xây dựng thương hiệu cần lấy được lòng tin chứ không chỉ là tăng độ nhận diện. Khi mà người dùng đã quá bội thực với các thông tin trên mạng xã hội, hơn nữa càng lúc càng có nhiều kẻ lợi dụng mạng xã hội như một nơi để lừa đảo trục lợi thì việc tập trung quá nhiều vào kênh này để xây dựng thương hiệu không phải là một chiến lược khôn ngoan. Để có lòng tin của khách hàng, các doanh nghiệp không những cần phải có sản phẩm thật tốt mà còn phải đưa được những thông tin hữu ích của sản phẩm đến với khách hàng và sẽ là không tồi khi lựa chọn các trang báo mạng có uy tín để làm nhiệm vụ này. Khách hàng sẽ cảm thấy an tâm hơn khi các thông tin đưa lên báo ít nhất cũng đã có sự kiểm duyệt khi đến với độc giả. Bản thân các doanh nghiệp, thương hiệu khi đưa bài lên báo cũng cần phải có các thông tin cơ bản về doanh nghiệp của mình. Đây là một trong những điều cơ bản mà khách hàng cần để có được sự an tâm, tin tưởng.

Khi đã xây dựng được lòng tin của khách hàng và nếu sản phẩm đủ tốt thì hãy yên tâm rằng khách hàng sẽ trở thành kênh truyền thông hiệu quả nhất để giúp bạn truyền đi thông điệp của mình. Chẳng phải con người ta luôn có nhu cầu chia sẻ những điều tốt đẹp cho nhau sao

Digital Marketing – Cơ hội mới cho những người dám thay đổi

Người tiêu dùng khi phát sinh nhu cầu thực sự thay vì lên Facebook để tìm thì họ sẽ chuyển sang các trang web chuyên biệt về kinh doanh như các sàn giao dịch thương mại điện tử để tìm mua sản phẩm mà mình cần. Vậy nên đây là cơ hội lớn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đang muốn bán được hàng và không đủ khả năng để cạnh tranh trực tiếp với hàng hoá của các doanh nghiệp lớn ở điểm bán.

Hãy tích cực đưa sản phẩm của mình lên các sàn giao dịch thương mại điện tử, chau chuốt về các thông tin sản phẩm và có một chính sách giá hợp lý, chắc chắn rằng khách hàng sẽ đến ngay với bạn.

Ngành hàng tiêu dùng luôn là một trong những ngành có sức cạnh tranh lớn nhất nhưng không phải vì thế mà bạn và doanh nghiệp của mình không thể thành công trong ngành này. Ngoài nắm bắt xu hướng làm Digital Marketing tốt cũng cần có sự quyết tâm và một chiến lược đúng đắn thì 50% thành công đã trong tay bạn rồi đó.

Xem thêm:

Phân tích hiệu quả của Digital Marketing Cho Ngành Hàng Tiêu Dùng
Rate this post

Khái niệm chung và đối tượng điều chỉnh của Luật kinh tế

Khái niệm chung và đối tượng điều chỉnh của Luật kinh tế

I. Khái niệm chung về luật kinh tế

1/ Khái niệm Pháp luật kinh tế

Trước khi đi vào tìm hiểu khái niệm luật kinh tế ta phải hiểu một khái niệm có liên quan đó là pháp luật kinh tê.

Pháp luật kinh tế là một hỗn hợp các quy phạm pháp luật thuộc nhiều ngành luật khác nhau liên quan đến toàn bộ đời sống kinh tế trong xã hội. Pháp luật kinh tế bao gồm các quy phạm pháp luật của các ngành luật có đối tượng điều chỉnh là các quan hệ kinh tế liên quan chặt chẽ với nhau trong quá trình tổ chức, quản lý kinh tế và các hoạt động kinh doanh. Pháp luật kinh tế bao gồm các ngành luật sau: Luật kinh tế, luật tài chính – ngân hàng, luật lao động, luật đât đai và môi trường.

Khái niệm chung và đối tượng điều chỉnh của Luật kinh tế
Khái niệm chung và đối tượng điều chỉnh của Luật kinh tế

2/ Khái niệm luật kinh tế

Theo khái niệm trên, Luật kinh tế chỉ là một bộ phận của pháp luật kinh tế. Nó là một ngành luật độc lập. Luật kinh tế được hiệu một cách chung nhất thì nó là tổng thê các quy phạm pháp luật mà với các quy phạm đó nhà nước tác động vào các tác nhân tham gia đời sống kinh tế và các quy phạm pháp luật liên quan đến mối tương quan giữa sự tự do của từng cá nhân và sự điều chỉnh của nhà nước.

Ngày nay nước ta đang xây dựng và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần {theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thì luật kinh tế được hiểu theo một quan điểm cụ thể: Luật kinh tế là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ kinh tê phát sinh trong quá trình tổ chức quản lý kinh tế của nhà nước và trong quá trình sản xuất kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau.

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Luật hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Luật của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

II. Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế

Người ta phân biệt các ngành luật với nhau thì phải dựa vào đối tượng và phương pháp điều chỉnh của chúng vì môi một ngành luật có đối tượng và phương pháp điều chỉnh riêng. Đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế là những quan hệ kinh tế do luật kinh tế tác động vào, bao gôm các nhóm quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế và nhóm quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các doanh nghiệp với nhau.

1/ Nhóm quan hệ quản lý kinh tế

Đây là quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý kinh tế giũa các cơ quan quản lý nhà nuớc về kinh tê với các chủ thể kinh doanh (các. cơ quan trong bộ máy nhà nước ít nhiều đều thực hiện chức năng quản lý kinh tế). Đặc điểm của mối quan hệ này là quan hệ bất bình đăng dựa trên nguyên tắc quyên uy phục tùng: chủ thể quản lý hoạch định, quyết định có tính chất mệnh lệnh, chủ thể bị quản lý phải phục tùng thực hiện theo ý chí của chủ thê quản lý. kế thống quan hệ quản lý kinh tế gồm:

+⁄ Quan hệ quản lý theo chiêu đọc: đó là các mối quan hệ giữa bộ chủ quản với các doanh nghiệp trực thuộc, giữa các UBND câptỉnh / thành phô với các doanh nghiệp trực thuộc UBND.

+⁄ Quan hệ quản lý giữa các cơ quan quản lý chức năng với các cơ quan quản lý kinh tếcó thẩm quyển riêng và cơ quan quản lý có thấm quyên chung. VD quan hệ giữa cơ quan tài chính với các bộ kinh tế, bộ kế hoạch đầu tư với các bộ kinh tế…

+/ Quan hệ quản lý giữa các cơ quan quản W chức năng với các doanh nghiệp.

VD: quan hệ giữa các cơ quan tài chính với các doanh nghiệp về vấn đề quản lý vốn tài sản của doanh nghiệp…

2/ Nhóm quan hệ kinh tế phát sinh trong quá trình kinh doanh giữa các chủ thể kinh doanh với nhau

Đây là những quan hệ thường phát sinh do thực hiện hoạt động sản xuất như chế biến gia công, xây lắp sản phẩm hoặc thực hiện hoạt động tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện các hoạt động dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời.

Trong hệ thống các quan hệ kinh tế thuộc đối tượng điều chỉnh của luật kinh tế, nhóm quan hệ này là nhóm quan hệ chủ yếu, thường xuyên và phổ biến nhất. Nhóm quan hệ Hãy có đặc điểm:

– Phát sinh trực tiếp trong quá trình kinh doanh nhằm đáp ứng các nhu cầu kinh doanh của các chủ thể kinh doanh.

_ Phát sinh trên cơ sở thống nhất ý chí của các bên thông qua hình thức pháp lý và hợp đồng kinh tê hoặc những thỏa thuận (ví dụ góp vôn thành lập công ty…).

_ Chủ thể của nhóm quan hệ này là các chủ thể kinh doanh (cá nhân, tổ chức) thuộc các thành phần kinh tế tham gia vào quan hệ kinh tê trên nguyên tắc tự nguyện, bình đăng, hai bên cùng có lợi.

– Quan hệ này là quan hệ tài sản / quan hệ hàng hóa- tiền tệ. Quan hệ tài sản do luật kinh tế điều chỉnh phát sinh trực tiếp trong qua trình kinh doanh nhằm mục đích kinh doanh mà chủ thể của chúng phải có chức năng kinh doanh (các doanh nghiệp); trong khi đó chủ thể của quan hệ tài sản trong luật dân sự lại chủ yêu là cá nhân và không có mục đích kinh doanh.

3/ Nhóm quan hệ kinh tế phát sinh trong nội bộ một đơn vị kinh doanh

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường các hình thức kinh doanh ngày càng trở nên phong phú và phức tạp. Ngoài hình thức các doanh nghiệp vừa và nhỏ, ở Việt Nam đã xuất hiện các đơn vị kinh doanh lớn dưới hình thức tông công ty và tập đoàn kinh doanh (Theo Luật doanh nghiệp nhà nước và Quyết định sô 91/TTg ngày 07/03/1994 của thủ tướng chính phủ về việc thí điểm thành lập tập đoàn kinh doanh). Tập đoàn kinh doanh hay tổng công ty là những hình thức liên kết của nhiều doanh nghiệp có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau về lợi ích kinh tế, công nghệ cung ứng và tiêu thụ, dịch vụ…và có tư cách pháp nhân.

Quan hệ phát sinh trong nội bộ một đơn vị kinh doanh náy có những đặc điểm sau:

Là quan hệ giữa một bên là pháp nhân và bên kia là một thành viên hoặc giữa các thành viên với nhau khi tiên hành thực hiện kê hoạch của tông công ty, tập đoàn. Các thành viên là các doanh nghiệp hạch toán độc lập hoặc không nhưng được pháp luật và tông công ty hay tập đoàn đảm bảo quyên tự chủ kinh doanh trong những lĩnh vực nhất định.

Quan hệ giữa các thành viên của tông công ty được thiết lập đề thực “hiện kế hoạch chung của tông công ty nhưng quan hệ đó vẫn là quan hệ hợp tác do vậy phải được thể hiện dưới hình thức hợp đồng, chịu sự điều chỉnh của pháp luật hợp đồng kinh tế.

Tham khảo thêm:

+ Phân tích các chủ thể trong Luật kinh tế

+ Những nguyên tắc của Luật kinh tế

Khái niệm chung và đối tượng điều chỉnh của Luật kinh tế
Rate this post

Khái niệm về Marketing và Marketing Mix

1. Khái niệm về Marketing

Marketing với tư cách là một hoạt động đem lại những hiệu quả kinh tế lớn lao trên nhiều mặt, ngay từ khi ra đời, Marketing đã không ngừng được ứng dụng phát triển và hoàn thiện.

Marketing, theo sự đánh giá của giới học giả kinh tế tư bản chủ nghĩa, là một căn cứ có vai trò, có ý nghĩa cả về lý luận lẫn hoạt động thực tiễn đặc biệt quan trọng, khả dĩ tới mức quyết định sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Họ gán cho Marketing những danh từ thật mỹ miều “Triết học kinh doanh mới”, “bí quyết tạo nên thành công trong kinh doanh”… Và Marketing được coi là một ngành khoa học kinh tế, là một nghệ thuật kinh doanh. Nó không ngừng phát huy tác dụng và không ngừng được bổ sung và phát triển, do đó nó được các tác giả, các nhà khoa học đưa ra các định nghĩa khác nhau:

– Định nghĩa về Marketing trong giáo trình Marketing căn bản của PGS.TS Trần Minh Đạo trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân:

“Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. Cũng có thể hiểu, Marketing là một dạng hoạt động của con người (bao gồm cả tổ chức) nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi”.

– Định nghĩa của Philip Kotler (Mỹ) – Chủ tịch hiệp hội Marketing thế giới:

“Marketing là sự phân tích, tổ chức, kế hoạch hoá và kiểm tra những khả năng thu hút khách hàng của một công ty cũng như chính sách và hoạt động với hoạt động với quan điểm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của nhóm khách hàng đã lựa chọn… Hoạt động của Marketing là một quá trình hoạt động được coi như phương tiện đẩy nhanh quá trình lưu thông hàng hoá. Hoạt động của Marketing bắt đầu từ khi sản phẩm được sản xuất ra và kết thúc khi nó bán trực tiếp cho người tiêu dùng”.

– Định nghĩa của Peter Drucker – nhà kinh tế học cận đại Mỹ:

“Marketing là toàn bộ những công việc kinh doanh nhìn theo quan điểm của người tiêu thụ”.

Chìa khoá để đạt được những mục tiêu trong kinh doanh của các doanh nghiệp là các doanh nghiệp phải xác định đúng nhu cầu và mong muốn của thị trường, khách hàng mục tiêu, từ đó tìm mọi cách đảm bảo cho sự thoả mãn nhu cầu và mong muốn đó bằng những phương thức có ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh. Quá trình trao đổi đòi hỏi phải làm việc. Ai muốn bán thì cần phải tìm người mua, xác định nhu cầu của họ, thiết kế những hàng hoá phù hợp, đưa chúng ra thị trường… Nền tảng của Marketing là tạo ra hàng hoá, khảo sát, thiết lập quan hệ giao dịch, tổ chức phân phối, xác định giá cả, triển khai dịch vụ. Marketing bao gồm các chính sách, biện pháp, nghệ thuật và việc vận dụng chúng vào thực tế có thành công hay không là phụ thuộc vào chính các doanh nghiệp.

Từ những định nghĩa, phân tích nêu trên chúng ta thấy cách hiểu về Marketing hết sức phong phú và đa dạng. Mỗi định nghĩa chỉ đúng khi xét theo quan điểm về mặt thời gian, đúng tại thời điểm này và có thể chưa đúng nếu xét vào thời điểm khác. Do đó cho đến nay người ta vẫn thống nhất là không nên và không cần thiết có một định nghĩa, một khuôn mẫu đối với hoạt động Marketing. Việc làm đó có thể dẫn tới sự hạn chế tính đa dạng, phong phú và sinh động của hoạt động Marketing trong thực tiễn.

2. Khái niệm về Marketing Mix

Trong quá khứ, để thành công trong kinh doanh, mỗi một công ty có thể sử dụng những cách Marketing khác nhau nhằm lôi kéo khách hàng quan tâm và lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình. Tuy nhiên với những cách làm Marketing đơn lẻ đã bộc lộ nhiều những điểm yếu. Từ đó Marketing hỗn hợp đã ra đời như một cách linh hoạt hơn để giúp các doanh nghiệp có thể cạnh tranh và tồn tại trong thị trường ngày càng nhiều đối thủ.

Giống như tên gọi của nó: Marketing hỗn hợp (Marketing Mix) được đề cập lần đầu tiên vào năm 1953 bởi Neil Borden – là Chủ tịch của hiệp hội Marketing Hoa Kỳ khi đó. Đó là tập hợp những công cụ Marketing mà công ty có thể sử dụng để đạt được trung tâm Marketing trong thị trường mục tiêu.

– Định nghĩa về Marketing dịch vụ của PGS.TS Lưu Văn Nghiêm trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân:

“ Marketing dịch vụ là phương pháp tổ chức quản lý bằng quá trình phát hiện và thích nghi tính hệ thống với những quy luật thuộc các lĩnh vực kinh tế xã hội… nhằm thỏa mãn nhu cầu của các thành viên tham gia đồng thời thực hiện những mục tiêu đã xác định, phù hợp với tiến trình phát triển của thực tại khách quan trong phạm vi nguồn lực kiểm soát được”. Phối thức 4P Marketing (Marketing-Mix) bao gồm: Sản phẩm, giá, phân phối và truyền thông được sử dụng rộng rãi bởi các doanh nghiệp cho Marketing sản phẩm. Mô hình phối thức Marketing 4P giúp doanh nghiệp xác định các sản phẩm sẽ bán, định giá bán, chọn kênh bán hàng phù hợp và chọn các hình thức truyền thông quảng bá sản phẩm đến các đối tượng khách hàng mục tiêu khác nhau.

Loại hình doanh nghiệp dịch vụ thì hoàn toàn khác với doanh nghiệp bán sản phẩm. Những đặc tính hoàn toàn khác biệt của dịch vụ bao gồm: Tính vô hình, tính Thang Long University Library không đồng nhất, không thể tách rời được, khó kiểm soát chất lượng… Vì vậy, các nguyên lý Marketing sử dụng cho sản phẩm không thể phù hợp hoàn toàn với lĩnh vực dịch vụ, do đó Marketing dịch vụ cần phải có mô hình phối thức Marketing riêng.

Các loại hình doanh nghiệp dịch vụ rất đa dạng và bao trùm toàn bộ nền kinh tế như dịch vụ ngân hàng, dịch vụ phần mềm, nhà hàng, bệnh viện, giáo dục, du lịch, nghỉ dưỡng… Mô hình phối thức Marketing dịch vụ bao gồm 7P: Sản phẩm (product), giá (price), phân phối (place), xúc tiến hỗn hợp (promotion), con người (people), quy trình (process) và cơ sở vật chất hữu hình (Physical evidence). Trong 7P này thì 4P đầu xuất phát từ phối thức Marketing sản phẩm và 3P được mở rộng cho phù hợp với đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh dịch vụ.

– Sản phẩm: Là điểm cốt lõi trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nếu sản phẩm không tốt thì mọi nổ lực của các phối thức Marketing khác đều sẽ thất bại.

– Giá: Chính sách định giá và chiến lược phân biệt giá của dịch vụ sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến mức độ hài lòng của khác hàng.

– Phân phối: Là một yếu tố khác tạo ra giá trị cho khách hàng. Không ai lại đi hàng chục cây số để đến một nhà hàng dùng bữa, vì vậy địa điểm phù hợp sẽ tạo sự tiện lợi và giúp khách hàng tiết kiệm thời gian. Một nguyên tắc là vị trí càng gần khách hàng thì khả năng khách hàng đến sử dụng dịch vụ càng cao.

– Xúc tiến hỗn hợp: Nhằm tạo sự nhận biết cũng như cảm nhận ban đầu của khách hàng về các dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp. Để đảm bảo sự nhất quán và gia tăng tính hiệu quả của xúc tiến hỗn hợp thì mọi thông điệp ruyền tải cần phải bám sát với định vị thương hiệu.

– Con người: Là phần mấu chốt trong việc thực hiện dịch vụ. Nếu một nhà hàng có những món ăn ngon mà người phục vụ quá kém thì cũng không tạo được sự hài lòng của khách hàng. Sự ân cần và tươi cười luôn được đánh giá cao bởi khách hàng.

– Quy trình: Là một phần quan trọng khác của chất lượng dịch vụ. Do đặc tính của dịch vụ là trừu tượng, vì vậy quy trình sẽ giúp đảm bảo chất lượng và nối kết giữa các công đoạn trong quy trình cung ứng dịch vụ. Ngoài ra, quy trình dịch vụ còn giúp doanh nghiệp tiết kiệm khoảng thời gian chờ đợi của khách hàng .

– Môi trường dịch vụ: Là một yếu tố khác ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Đặc điểm của dịch vụ là sự trừu tượng nên khách hàng thường phải tìm các yếu tố “hữu hình” khác để quy chuyển trong việc đánh giá. Ví dụ, khi một bệnh nhân tìm đến một nha sĩ thì yếu tố phòng khám sạch sẽ, trang nhã, yên tĩnh hay trên tường treo nhiều giấy chứng nhận, bằng khen, bằng cấp, bài báo viết về vị nha sĩ này sẽ tạo ra một niềm tin rất lớn từ bệnh nhân.

Marketing dịch vụ là một mô hình hoàn toàn khác với sản phẩm vì vậy với loại hình dịch vụ thì việc công ty thấu hiểu 7P là điều quan trọng để mang đến chất lượng dịch vụ như mong đợi của khách hàng.

Xem thêm:

Khái niệm về Marketing và Marketing Mix
Rate this post

Lời mở đầu hay cho đề tài luận văn quản lý giáo dục

Lời mở đầu hay cho đề tài luận văn quản lý giáo dục

Tên đề tài: Phân tích một mô hình quản lý giáo dục, liên hệ thực tế và xác  định khả năng áp dụng mô hình quản lý đó cho cơ sở giáo dục nơi anh chị công tác.

Lời mở đầu hay cho đề tài luận văn quản lý giáo dục
Lời mở đầu hay cho đề tài luận văn quản lý giáo dục

Lời mở đầu đề tài luận văn quản lý giáo dục

Quản lý thường được coi là một hoạt động thực tiễn, việc xác  định các mục tiêu, phân bổ các nguồn lực cũng như việc đánh giá tính  hiệu nghiệm, kết quả – tất cả đều là những hành động. Nhiều nhà hoạt  động thực tiễn thậm chí gạt bỏ không thương tiếc các lý thuyết, các quan điểm quản lý vì họ cho rằng chúng quá xa vời với “hiện thực”
của nhà trường.

Sự thiếu gắn kết giữa lý luận và thực tiễn là điều dễ nhận thấy và cũng dễ xảy ra trong quản lý giáo dục nói riêng và quản lý xã hội, quản lý sản xuất nói chung. Các nhà bác học “sáng chế” ra lý luận, còn những nhà thực hành thì “lặn ngụp” trong công việc quản lý thường nhật. Thực ra, chúng ta đều biết rằng, không thể thực hành mà không có sự dẫn đường của lý luận. Nhưng chúng ta cũng biết rằng lý luận phải gắn liền với thực tiễn, phải xuất phát từ thực tiễn và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn. Không thể chỉ có một thứ lý luận cao xa bất khả dụng. Cũng không thể hoạt động thực tiễn có hiệu quả mà không học hành gì.

Cũng có những nhà quản lý giáo dục cho rằng họ không có bao nhiêu sách vở, chữ nghĩa, nhưng vẫn làm việc tốt, bởi họ có “kinh nghiệm thực tiễn” cực kỳ phong phú. Thực ra, chúng ta có thể nhận thấy rằng trong cái kho tàng “kinh nghiệm” tích luỹ được qua nhiều năm hoạt động thực tiễn đã “ẩn tàng” những lý luận mà người thủ đắc nó chẳng nói ra mà thôi.

Quá trình quản lý diễn ra trong mọi tình huống khi con người ta tụ tập lại cùng nhau để hoạt động vì mục đích chung, để đạt được kết quả đã cùng nhau thoả thuận. Có thể có những cách hiểu về quản lý khác nhau trong những tổ chức khác nhau, nhưng điều đó chỉ phản ánh sự khác biệt giữa các tổ chức về khía cạnh quy mô, công nghệ, đội ngũ, và kết quả hoạt động mà thôi. Sự khác biệt dù có sâu xa về giá trị và mục đích hoạt động của các tổ chức khác nhau không làm lu mờ quan niệm về quản lý như đã trình bày.

Luận chứng mà chúng ta đưa ra là không tồn tại “một cách tốt nhất” để quản lý. Quản lý không hề có nghĩa tuyệt đối, phổ quát khi chúng ta áp dụng cách thức quản lý vào những bối cảnh cụ thể. Quản lý chỉ có ý nghĩa nếu nó được biến đổi phù hợp trong mỗi tình huống cụ thể và khái niệm quản lý chỉ có giá trị nếu nó được quan niệm theo
mỗi tình huống cụ thể mà thôi.

Trong các mô hình quản lý giáo dục như mô hình chính quy, mô hình đồng thuận, mô hình chính trị, mô hình chủ quan,….. Mỗi mô hình đều có những ưu điểm và hạn chế riêng. Song ở bài viết này em chỉ xin phân tích một mô hình, đó là các mô hình đồng thuận.

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Quản lý giáo dục hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Quản lý giáo dục của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

Tham khảo thêm: 

Bản chất của “Quản lý sự thay đổi” trong quản lý giáo dục

Trình bày các khái niệm về quản lý nhà trường

Lời mở đầu hay cho đề tài luận văn quản lý giáo dục
Rate this post

Đề cương chi tiết bài báo cáo thực tập marketing

Bài viết chia sẻ đề cương chi tiết báo cáo thực tập marketing hay cho sinh viên.

MỤC LỤC
Trang
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
2. Mục tiêu nghiên cứu
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4. Phương pháp nghiên cứu
5. Kết cấu đề tài

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ MARKETING MIX TRONG KINH
DOANH DỊCH VỤ GIÁM ĐỊNH.
1.1 Khái quát về dịch vụ
1.1.1 Khái niệm về dịch vụ
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ
1.1.3 Chất lượng dịch vụ
1.1.3.1 Khái niệm.
1.1.3.2 Quản trị chất lượng dịch vụ.
1.2 Khái quát về Marketing dịch vụ
1.2.1 Khái niệm Marketing dịch vụ
1.2.2 Quá trình Marketing dịch vụ.
1.2.3 Marketing mix cho ngành dịch vụ
1.2.3.1 Khái niệm về Marketing mix
1.2.3.2 Một số vấn đề cơ bản của Markting dịch vụ.

1.2.4 Marketing mix – 7P trong dịch vụ
1.2.4.1 Sản phẩm (Product)
1.2.4.2 Giá (Price)
1.2.4.3 Phân phối (Place)
1.2.4.4 Xúc tiến (Promotion)
1.2.4.5 Quá trình (Process)
1.2.4.6 Con người (People).
1.2.4.7 Môi trường vật chất (Physical evidence) .
1.3 Tìm hiểu về giám định và dịch vụ giám định
1.3.1 Khái niệm về giám định .
1.3.2 Khái quát về dịch vụ giám định
1.3.2.1 Khái niệm dịch vụ giám định.
1.3.2.2 Các loại hình dịch vụ giám định
1.3.2.3 Danh sách một số công ty thực hiện dịch vụ giám định tại Việt Nam
1.4 Vai trò của Marketing mix đối với việc đẩy mạnh hoạt động dịch vụ giám định

1.5 Nhiệm vụ của Marketing mix đối với dịch vụ giám định
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING MIX TẠI CÔNG
TY TNHH COTECNA VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA
2.1 Tổng quát về công ty TNHH Cotecna Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
2.1.2 Chức năng và lĩnh vực hoạt động
2.1.2.1 Chức năng và quyền hạn
2.1.2.2 Lĩnh vực hoạt động
2.1.3 Cơ cấu tổ chức.
2.1.3.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức .

2.1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các phòng ban .
2.1.4 Lao động
2.1.4.1 Tỉ lệ lao động .
2.1.4.2 Chính sách lao động
2.2 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động Marketing mix của công ty thời gian qua .
2.2.1 Môi trường vĩ mô .
2.2.1.1 Yếu tố kinh tế
2.2.1.2 Yếu tố chính trị – pháp luật
2.2.1.3 Yếu tố văn hóa – xã hội .
2.2.1.4 Yếu tố kỹ thuật – công nghệ .
2.2.2 Môi trường vi mô .
2.2.2.1 Khách hàng
2.2.2.2 Nhà cung cấp
2.2.2.3 Đối thủ cạnh tranh.
2.3 Tình hình chung về kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong năm 2011-2013
2.4 Thực trạng hoạt động Marketing mix trong việc đẩy mạnh hoạt động dịch vụ giám định tại công ty TNHH Cotecna Việt Nam
2.4.1 Quá trình Marketing dịch vụ tại công ty TNHH Cotecna Việt Nam
2.4.2 Thực trạng về hoạt động Marketing mix tại công ty.
2.4.2.1 Về sản phẩm
2.4.2.2 Về giá .
2.4.2.3 Về phân phối
2.4.2.4 Về xúc tiến
2.4.2.5 Về quy trình dịch vụ.

2.4.2.6 Về con người
2.4.2.7 Về môi trường vật chất.
2.5 Đánh giá chung về hoạt động Marketing mix tại công ty
2.5.1 Ưu điểm và những thành tựu đạt được
2.5.2 Những mặt hạn chế và nguyên nhân
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP MARKETING MIX VÀ CÁC KIẾN NGHỊ NHẰM ĐẨY MẠNH HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ GIÁM ĐỊNH CỦA CÔNG TY TNHH COTECNA VIỆT NAM.
3.1 Định hướng phát triển công ty trong năm 2014 – 2019
3.2 Căn cứ đề xuất giải pháp.
3.2.1 Cơ hội
3.2.2 Thách thức
3.3 Các giải pháp Marketing mix nhằm đẩy mạnh hoạt động dịch vụ giám định tại công ty .
3.3.1 Giải pháp về nghiên cứu và phát triển thị trường .
3.3.1.1 Cơ sở giải pháp
3.3.1.2 Nội dung giải pháp.
3.3.1.3 Kết quả dự kiến

3.3.2 Giải pháp về đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
3.3.2.1 Cơ sở giải pháp.
3.3.1.2 Nội dung giải pháp.
3.3.1.3 Kết quả dự kiến .
3.3.3 Giải pháp về nâng cao giá trị thương hiệu
3.3.3.1 Cơ sở giải pháp
3.3.3.2 Nội dung giải pháp
3.3.3.3 Kết quả dự kiến .
3.3.4 Giải pháp về các hoạt động xúc tiến dịch vụ
3.3.4.1 Cơ sở giải pháp.
3.3.4.2 Nội dung giải pháp
3.3.4.3 Kết quả dự kiến
3.3.5 Giải pháp về công nghệ thông tin
3.3.5.1 Cơ sở giải pháp
3.3.5.2 Nội dung giải pháp
3.3.5.3 Kết quả dự kiến
3.4 Một số kiến nghị với Nhà nước
3.4.1 Hoàn thiện các luật và văn bản đối với ngành giám định xuất nhập khẩu.
3.4.2 Xây dựng và quản lý chặt chẽ hệ thống các tổ chức kinh doanh dịch vụ giám định

TÓM TẮT CHƯƠNG 3.
KẾT LUẬN.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Xem thêm:

Đề cương chi tiết bài báo cáo thực tập marketing
Rate this post

Những công tác trong quản trị công ty cổ phần

Những công tác trong quản trị công ty cổ phần

1. Khái niệm quản trị công ty cổ phần

– (theo nghĩa hẹp): quản lý nội bộ công ty

– (theo nghĩa rộng): quá trình tác động để công ty để định hướng hành vi công ty

2.  Quản trị công ty cổ phần ở Việt Nam (song lớp)

Những công tác trong quản trị công ty cổ phần
Những công tác trong quản trị công ty cổ phần

Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình làm luận văn, tiểu luận về ngành Luật hãy tham khảo dịch vụ viết thuê luận văn thạc sĩ Luật của chúng tôi để được hỗ trợ tốt nhất.

Ngoài ra còn có các yếu tố khác tác động đến quản trị công ty như

– Người cung cấp nguyên vật liệu

– Người bán

– Chính sách, thể chế

– Các tổ chức chính trị

– Sở giao dịch chứng khoán

– Lao động

– …

3. Đại hội đồng cổ đông

3.1 Khái niệm đại hội đồng cổ đông:

Là cơ quan quyền lực cao nhất trong công ty, thể hiện thông qua thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông, quyết định các vấn đề như

– Phương hướng, đường lối phát triên của công ty

– Dự án, giao dịch có giá trị lớn (≥ 50% nếu Điều lệ công ty không quy định khác)

– Tăng, giảm vốn điều lệ: quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần từng loại đem bán

– Bổ sung, sửa đổi điều lệ của công ty

– Tổ chức lại công ty

– Giải thể, phá sản công ty

– Bầu và miễn nhiệm thành viên hội đồng quản trị và thành viên ban kiểm soát
(phương thức: bầu dồn phiếu

 mỗi người có số quyền bầu = số cổ phần phổ thông * số quyền trong hội đồng

 tạo ra sự tập trung phiếu bầu để luôn có kết quả

 tạo cơ hội cho cổ đông nhỏ dồn số phiếu của mình bầu và có cơ hội cho người đó được)

– Thông qua báo cáo bạch

– …

Những công tác trong quản trị công ty cổ phần
Những công tác trong quản trị công ty cổ phần

3.1  Phân loại đại hội đồng cổ đông

– Đại hội đồng cổ đông thành lập

Là phiên họp thông qua điều lệ công ty
– Đại hội đồng cổ đông thường niên

+ Là phiên họp Đại hội đồng cổ đông được ghi nhận trong điều lệ công ty.

+ Tối thiểu mỗi năm có một Đại hội đồng cổ đông thường niên diễn ra trong khoảng thời gian 4 tháng kể từ thời điểm kết thúc năm tài chính (trường hợp đặc biệt được cơ quan chức năng cho phép thì là 6 tháng)

– Đại hội đồng cổ đông bất thường

+ Là cuộc họp Đại hội đồng cổ đông được triệu tập theo những căn cứ mà điều lệ công ty hoặc pháp luật quy định (phụ thuộc người triệu tập)

+ Có 3 đối tượng có quyền triệu tập ĐHĐ cổ đông bất thường

1 Chủ tịch Hội đồng quản trị

o Do nhu cầu cấp bách về quản trị công ty

o Khi số lượng thành viên Hội đồng quản trị giảm quá 1/3 so với số lượng quy định trong điều lệ công ty.

o Theo yêu cầu của ban kiểm soát

o Theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông thiểu số (khoản 2- điều 79)

2- Ban kiểm soát

Nếu ban kiểm soát yêu cầu ban quản trị triệu tập. Trong 30 ngày, ban quản trị không triệu tập
thì ban quản trị sẽ phải chịu mọi thiệt hại gây ra và ban kiểm soát sẽ đứng ra triệu tập.

3- Nhóm cổ đông thiểu số

Nếu nhóm cổ đông thiểu số yêu cầu ban quản trị triệu tập, trong 30 ngày, ban quản trị không triệu tập thì ban quản trị sẽ phải chịu mọi thiệt hại, nhóm cổ đông tiếp tục yêu cầu ban kiểm soát triệu tập, trong 30 ngày, ban kiểm soát tiếp tục không triệu tập, ban kiểm soát phải chịu mọi thiệt hại và nhóm cổ đông thiểu số trực tiếp triệu tập đại hội.

3.3  Điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông

Phiên họp lần 1: số lượng cổ đông dự họp đại diện cho ít nhất 65% cổ phần trở lên.

 không được thì sang lần 2: đại diện cho ít nhất 51% cổ phần trở lên.

 không được thì sang lần 3 (tiến hành trong 20 ngày tiếp theo từ khi hoãn lần 2): không có điều kiện về số cổ phần, cổ đông dự họp (còn lại điều kiện công ty quy định)

3.4  Thể thức thông qua nghị quyết đại hội đồng cổ đông:

– Lấy ý kiến bằng văn bản: có giá trị khi số biểu quyết thuận đại diện cho trên 75% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên (điều lệ công ty có quyền quy định cao hơn nhưng không thấp hơn 75)

– Những trường hợp quan trọng (tăng, giảm vốn điều lệ, giải thể công ty, phân chia cổ tức): phải  biểu quyết ngay tại cuộc họp với tỷ lệ sàn là 75% cổ phần dự họp.; những trường hợp khác thì tỉ lệ sàn là 65%.

3.5  Thủ tục triệu tập cuộc họp:

– Lấy danh sách các cổ đông dự họp và niêm yết công khai trước khi họp.

– Gửi giấy mời đến các cổ đông dự họp ít nhất trước 7 ngày.

– Nội dung cuộc họp được thông báo kèm giấy mời.

– Người giữ cổ phiếu từ 10% trở lên liên tục trong vòng 6 tháng có quyền đề nghị người triệu tập bổ sung nội dung dự kiến của phiên họp.

3.6 Thủ tục tiến hành họp

– Người triệu tập và người chủ trì họp có thể đề ra những biện pháp an ninh khác nhau để đảm bảo cho phiên họp diễn ra.

– Phải có thư ký cuộc họp để lập biên bản Đại hội đồng cổ đông, biên bản được lưu trữ như một tài liệu chính thức (phải có chữ ký đầy đủ)

– Các trường hợp tạm ngừng phiên họp: Chủ trì phiên họp có thể cho tạm ngừng phiên họp nhưng không quá 3 ngày trong những trường hợp:

+ Điều kiện phiên họp không đủ những điều kiện khách quan cho cuộc họp.

+ Có biểu hiện gây rối.

+ Các trường hợp khác theo điều lệ công ty.

4. Người quản trị công ty

4.1  Người quản trị công ty cổ phần có thể là:

– Thành viên hội đồng quản trị.

– Giám đốc, tổng giám đốc

– Thành viên ban kiểm soát

4.2  Nghĩa vụ (khái quát)

– Công bố thông tin cá nhân (dán tại trụ sở,…)

+ Những thông tin liên quan đến các doanh nghiệp khác mà người quản trị công ty là người thành lập hoặc tham gia quản lí điều hành.

+ Những doanh nghiệp mà ở đó người quản trị công ty có cổ phần vốn góp.

+ Những doanh nghiệp mà những người thân thích (trong phạm vi 3 đời) của người quản trị công ty tham gia thành lập hoặc quản lí điều hành hoặc có cổ phần vốn góp.

– Nghĩa vụ trung thành với lợi ích công ty

+ Trung thành: người quản trị công ty phải đặt lợi ích của công ty lên trên lợi ích của bản thân và lợi ích của các bên thứ 3 khác.

+ Các loại nghĩa vụ trung thành mà công ty cổ phần có thể đưa vào điều lệ

Loại bỏ những tư lợi của người quản trị: nếu giao dịch tư lợi của người quản trị gây thiệt hại cho công ty  người đó phải gánh trách nhiệm cá nhân.

Bảo mật thông tin: bí mật kinh doanh, lợi ích công ty,…

 Hạn chế cạnh tranh: những doanh nghiệp mà do người quản trị công ty thành lập, góp vốn hoặc do những người có quan hệ với người quản trị (trong phạm vi 3 đời) thành lập, góp vốn thì không được kinh doanh cùng mặt hàng với doanh nghiệp đó.  loại bỏ vấn đề doanh nghiệp sân sau.

 Nghĩa vụ cẩn trọng: do sơ suất, cẩu thả làm ảnh hưởng đến lợi ích công ty.

– Kiểm soát giao dịch tư lợi

+ Xác định những loại giao dịch có nguy cơ tư lợi: là những hợp đồng có một bên là công ty, bên kia là:

Cổ đông sở hữu trên 30% cổ phần phổ thông trở lên hoặc thành viên hội đồng quản trị

 Giám đốc, Tổng giám đốc theo điều lệ công ty

Thành viên ban kiểm soát

 Những người thân thích của những người kể trên

 Những người quản trị công ty mẹ

 Những người có quyền bổ nhiệm thành viên hội đồng quản trị công ty mẹ

+ Quá trình kiểm soát

 Những giao dịch trên phải được công khai hóa

 Nếu giá trị giao dịch mà trên 50% tổng giá trị tài sản trên sổ sách kế toán công ty thì giao dịch này phải được sự chấp thuận của đại hội đồng cổ đông.

 Nếu giá trị giao dịch mà dưới 50% thì phải được sự chấp thuận của hội đồng quản trị.

 Những giao dịch không tuân theo chu trình kiểm soát trên  mọi tổn thất đến công ty được gánh theo trách nhiệm cá nhân

Tham khảo thêm:

Luật doanh nghiệp định nghĩa công ty cổ phần như thế nào?

Các chế tài xử lý do vi phạm hợp đồng

Những công tác trong quản trị công ty cổ phần
Rate this post

Truyền thông Marketing tại công ty Milo

Truyền thông Marketing tại công ty Milo

1. Xúc tiến bán

Đối với một số sản phẩm, dịch vụ dù có được xây dựng và phát triển 1 cách hoàn hảo thì cũng không thể tồn tại trên thị trường nếu thiếu đi hoạt động xúc tiến bán hiệu quả. Đây là một cách thức bán hàng được tạo ra bởi các nhà marketers, nhằm thuyết phục, thúc đẩy khách hàng tiềm năng mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp. Và chiến lược xúc tiến bán của Nestle với sản phẩm Milo là tập trung thuyết phục nhóm đối tượng khách hàng mục tiêu rằng sản phẩm của họ cung cấp những đặc điểm, tiện ích nổi trội hơn so với đối thủ. Những đặc tính này có thể bao gồm chất lượng cao, giá thành rẻ, dịch vụ xuất sắc hay đơn giản là một đặc tính mà sản phẩm của đối thủ không có. Ví dụ như việc Milo khiến khách hàng của họ tin rằng trẻ em sẽ trở nên năng động, hoạt bát hơn khi sử dụng sản phẩm của Milo. Hoặc trong một chiến dịch tại Malaysia, Milo đã rất khôn ngoan khi sử dụng hình ảnh vận động viên nổi tiếng trong nước Datuk Nicol Ann David đại diện cho quảng cáo của mình.

Hoạt động xúc tiến bán của Milo được phát triển mạnh mẽ qua các phương tiện thông tin đại chúng như: truyền hình, đài, báo, banner, poster, video tại các siêu thị,… Bên cạnh đó, Milo còn sử dụng nhiều hình thức quảng bá, xúc tiến bán khác như: tham gia hội chợ sản phẩm, tài trợ một số chương trình, PR, đồ tặng kèm miễn phí khi mua sản phẩm hoặc giảm giá,.. Đây là những công cụ hữu ích mà Nestle đã sử dụng nhằm thuyết phục và xây dựng mối quan hệ với khách hàng.

Milo được biết đến nhiều nhất thông qua các hoạt động tài trợ của nhãn hàng dành cho các sự kiện thể thao trên nhiều nước, đặc biệt là các giải đấu giữa các trường tiểu học và trung học cơ sở. Bằng việc hợp tác với các đơn thể thao thanh thiếu niên, Milo cùng họ tạo ra các sự kiện thể thao trong nước và quốc tế. Tại đó, các quầy sản phẩm Milo được mở ra và tặng miễn phí đồ uống cho người tham dự. Đây là một cách thức hiệu quả trong việc khẳng định lại thương hiệu với sản phẩm gắn liền với các hoạt động thể thao, rèn luyện sức khỏe, tạo ra cái nhìn thiện cảm từ khách hàng.

Ấn phẩm truyền thông

Ấn phẩm truyền thông bao gồm báo, tạp chí, poster,.. Nestle thường xúc tiến bán sản phẩm Milo qua các tạp chí dành cho trẻ em, thanh thiếu niên bởi đây chính là đối tượng khách hàng mục tiêu của nhãn hàng. Bên cạnh đó, Milo cũng hợp tác tài trợ cho chuyên mục thể thao của một số báo, cho đăng tải hình ảnh những vận động viên nổi tiếng cùng logo của nhãn hàng nhằm thu hút những người yêu thích thể thao và trẻ em. Poster thường được nhãn hàng cung cấp cho các đại lý bán buôn, bán lẻ nhằm giúp người mua nhận biết đâu là nơi có bán sản phẩm Milo.

Social media

Một điều không ai có thể phủ nhận đó là mạng xã hội đang ngày càng trở thành một nhu cầu tất yếu trong cuộc sống thường ngày. Nắm bắt được điều này, các doanh nghiệp vận dụng tối đa phương tiện này để góp phần tăng doanh số thông qua các chiến dịch xuất hiện hàng ngày ta có thể thấy trên Facebook, Youtube, Instagram,… Nestle cũng vậy, đặc biệt với dòng sản phẩm thương hiệu Milo đã được triển khai rất nhiều chiến dịch marketing ấn tượng thông qua kênh truyền thông quyền lực này. Trong đó gần gũi với chúng ta nhất là chiến dịch “Năng động Việt Nam” được Milo thực hiện vào năm 2017 vừa qua đã gây được tiếng vang lớn khi sử dụng mạng xã hội là một trong những phương thức truyền thông chính. Chương trình nhằm thay đổi nhận thức, khuyến khích lối sống năng động, luyện tập thể thao thường xuyên trong cộng đồng Việt Nam và đặc biệt hướng vào trẻ em trong độ tuổi 6 đến 17.

Bằng cách hợp tác với Bộ Giáo Dục và Đào Tạo và Tổng Cục Thể Dục Thể Thao Việt Nam, rất nhiều trường học đã được Milo tài trợ, cung cấp trang thiết bị tập luyện thể dục thể thao, nhiều địa phương được hỗ trợ tổ chức các phong trào luyện tập thể thao, rèn luyện sức khỏe. Chiến dịch đã sử dụng các mạng xã hội lớn như: Facebook, Youtube để chia sẻ những câu chuyện truyền cảm hứng có thật đến giới trẻ cộng đồng Việt Nam.

Kết quả của chiến dịch: đã có hơn 320.000 phụ huynh cam kết sẵn sàng hành động cùng Nestlé trong công cuộc hiện thực hóa “Đề án tổng thể phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam giai đoạn 2011-2030”. Sự thành công của chiến dịch còn vượt ra khỏi biên giới Việt Nam, đưa Nestle vượt qua hơn 600 chiến dịch xuất sắc khác tại Châu Á Thái Bình Dương để trở thành doanh nghiệp kinh doanh đồ ăn và thức uống Việt Nam đầu tiên được vinh danh tại Effie Award 2018 (một trong những giải thưởng danh giá nhất về lĩnh vực quảng cáo).

Từ chiến lược truyền thông marketing phân tích trên, hi vọng bạn sẽ tìm được những ý tưởng độc đáo, mới mẻ cho kế hoạch Marketing của mình.

Xem thêm:

Truyền thông Marketing tại công ty Milo
Rate this post